vanban.org

Bản án 75/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội Tuyên án 11/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội «Mua bán trái phép chất ma túy».

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 48 (Bốn mƣơi tám) tháng tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 19/09/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S phạm tội Mua bán TPC ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội «Mua bán trái phép chất ma túy».
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN X
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2023/HS - ST
Ngày: 14/12/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Chương

Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Nguyễn Lương Đức

2. Bà Trần Thị Thảo Yến

Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Dung - Thẩm tra viên Tòa

án nhân dân huyện X, TP Hà Nội

Đại diện VKSND huyện X - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Đức Thịnh - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 70/2023/TLST - HS ngày 15/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐXXST - HS ngày 29/11/2023 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN S, sinh năm 1987; Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: thôn T2, xã M, huyện X, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ, con bà Đinh Thị L (đã chết); Tiền án: 01 tiền án: Ngày 28/04/2016, Tòa án nhân dân quận L, thành phố Hà Nội xử phạt 09 năm 06 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy (Bản án số 106/2016/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/02/2023, chưa được xóa án tích). Nhân thân: Ngày 22/01/2010, Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản, thời gian thử thách 20 tháng (Bản án số 14/2010/HSST ngày 22/01/2010, đã xóa án tích); Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/09/2023; Danh, chỉ bản số 221 lập ngày 04/10/2023 tại Công an huyện X, thành phố Hà Nội; Bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an thành phố Hà Nội (có mặt).

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lại Văn T, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn 3, xã T1, huyện B, tỉnh Hà Nam (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 19/09/2023, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy, Công an huyện X phối hợp với Công an xã T tổ chức nắm tình hình địa bàn. Khi Tổ công tác đi đến đường đồng thôn N, xã T thì phát hiện thấy hai người nam giới cạnh Nghĩa trang thôn H, xã K, huyện X có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Tại thời điểm kiểm tra hai người này khai tên là Nguyễn Văn S (Sinh năm: 1987, HKTT: thôn T2, xã M, huyện X, TP Hà Nội) và Lại Văn T (Sinh năm: 1981, HKTT: thôn 3, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam). Quá trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện dưới đất ngay vị trí Nguyễn Văn S đang đứng có 02 (hai) gói nhỏ bọc bằng giấy bạc màu trắng, 01 (một) túi nilon bên trong chứa 08 (tám) gói nhỏ bằng giấy bạc màu trắng, bên trong mỗi gói chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy và số tiền 400.000 đồng. Nguyễn Văn S tự khai nhận đang bán 02 gói ma túy cho Lại Văn T với giá 400.000 đồng nhưng mới nhận tiền, chưa kịp đưa ma túy cho T thì bị lực lượng Công an kiểm tra nên đã vứt toàn bộ số ma túy trong người và tiền xuống đất. Sau đó, Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa các đối tượng cùng tang vật về trụ sở để làm việc theo quy định.

Vật chứng thu giữ: 02 (hai) gói giấy bạc có cùng kích thước khoảng (1x2)cm bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy (được niêm phong ký hiệu M1); 01 (một) túi nilon kích thước khoảng (3.5x6) cm bên trong có chứa 08 (tám) gói giấy bạc cùng kích thước khoảng (1x2)cm bên trong đều chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy (được niêm phong ký hiệu M2); Số tiền 400.000 Việt Nam đồng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng đã qua sử dụng có số IMEI 1: 359752073749338, số IMEI 2: 359753073749336 lắp sim số 0373218748 thu giữ của Nguyễn Văn S.

Ngày 20/9/2023, Cơ quan CSĐT- Công an huyện X đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn S tại thôn T2, xã M, huyện X, TP Hà Nội nhưng không phát hiện thu giữ gì.

Tại bản Kết luận giám định số 6371/KL - KTHS ngày 26/9/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận nhƣ sau:

“- Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy bạc (ký hiệu M1) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,14 gam.

- Chất bột màu trắng bên trong 08 gói giấy bạc (để trong 01 túi nilon, ký hiệu M2) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,462 gam”.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn S khai nhận: Chiều ngày 18/9/2023, S đi đến khu vực đường gom cao tốc V - G thuộc địa phận thị trấn X, huyện X, TP Hà Nội tìm mua ma túy heroine của một người đàn ông không quen biết với giá 1.100.000 đồng để bán kiếm lời. Sau đó, S về nhà và chia số ma tuý thành 10 gói nhỏ, bên ngoài bọc bằng giấy bạc để bán lại cho các con nghiện có nhu cầu. Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 19/9/2023, Nguyễn Văn S đang đi chơi ở khu vực Nghĩa Trang thôn H, xã K, huyện X thì nhận được điện thoại từ số 0854605518 của Lại Văn T gọi vào số điện thoại 0373218748 của S. T hỏi S “Anh có trắng không để em quả năm”, S hiểu ý là hỏi mua 500.000 đồng tiền ma tuý loại Heroine nên trả lời “Anh không có quả năm, có lấy hai quả hai thì lấy”. T hiểu ý S là còn ma tuý loại 200.000 đồng nên đồng ý mua 02 gói ma tuý, mỗi gói giá 200.000 đồng. Lúc này trong túi quần của S đang có sẵn 01 túi nilong bên trong có 10 gói giấy bạc đều chứa ma túy loại Heroine nên nói với T “Anh đang ở nghĩa trang thôn H, xã K” rồi tắt máy. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi cả hai gặp nhau tại khu vực nghĩa trang thôn H, xã K, T đưa cho S số tiền 400.000 đồng. S cầm tiền, rồi lấy 02 gói ma túy định đưa cho T thì bị Tổ công tác kiểm tra, thấy vậy S đã vứt toàn bộ 10 gói ma túy bên ngoài bọc giấy bạc và 400.000 đồng xuống đất cạnh vị trí S đứng.

Đối với Lại Văn T là người hỏi mua ma tuý của Nguyễn Văn S vào ngày 19/9/2023. Quá trình điều tra xác định, khi gặp nhau tại Nghĩa trang thôn H, T mới đưa tiền cho S nhưng chưa nhận được ma túy thì bị Công an phát hiện. Do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn S là người không rõ lai lịch tại khu vực đường gom cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ thuộc địa phận Thị trấn X, huyện X vào ngày 18/9/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được đối tượng liên quan nên không có căn cứ xác định người bán ma túy để xử lý theo quy định của pháp luật.

Bản cáo trạng số 68/CT - VKSTT ngày 13/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện X, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

* Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện X đã truy tố đối với bị cáo. Khi được nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt vì hoàn cảnh gia đình bị cáo có nhiều khó khăn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X sau khi phân tích về nội dung vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 42 đến 48 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử cho xử lý các vật chứng như sau: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy Heroine thu giữ của các bị cáo (trọng lượng còn lại sau khi giám định); Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 400.000 đồng của T dùng để mua ma túy của S và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo và việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện X:

Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Văn S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang và bản kết luận giám định. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Khoảng 16 giờ ngày 19/9/2023, tại khu vực nghĩa trang thôn H, xã K, huyện X, TP Hà Nội, Nguyễn Văn S có hành vi bán trái phép 02 gói ma tuý loại Heroine có tổng khối lượng 0,14 gam cho Lại Văn T với giá 400.000 đồng và tàng trữ 0,462 gam ma tuý loại Heroine nhằm mục đích để bán lại kiếm lời thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy, Công an huyện X phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện X truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại cáo trạng là có căn cứ pháp lý.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo đảm trật tự trị an xã hội cần phải nghiêm trị, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung cho mọi người.

Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích và 01 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, đã được pháp luật cải tạo, giáo dục nhiều lần nhưng không có tiến bộ.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội cố ý khi chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự «Tái phạm» quy định tại Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tội và thể hiện sự ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung đối với bị cáo:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: «Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản».

Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo.

Về xử lý các vật chứng đã thu giữ trong vụ án:

- Đối với vật chứng gồm: 01 (một) phong bì niêm phong được dán kín mép, bên trên có chữ ký của Giám định viên, cán bộ niêm phong, Nguyễn Văn S bên trong có 02 (hai) gói giấy bạc có cùng kích thước khoảng (1x2)cm bên trong chứa ma túy; 01 (một) phong bì niêm phong được dán kín mép, bên trên có chữ ký của Giám định viên, cán bộ niêm phong, Nguyễn Văn S bên trong có 01 (một) túi nilon kích thước khoảng (3.5x6)cm bên trong có chứa 08 (tám) gói giấy bọc cùng kích thước khoảng (1x2)cm đều chứa ma túy là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với vật chứng gồm: Số tiền 400.000 đồng S có được từ việc bán ma túy cho T là tiền do phạm tội mà có và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng đã qua sử dụng có số IMEI 1: 359752073749338, số IMEI 2: 359753073749336 lắp sim số 0373218748 S dùng để liên lạc bán ma túy cho T nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Về những vấn đề khác trong vụ án:

- Đối với Lại Văn T là người hỏi mua ma tuý của Nguyễn Văn S vào ngày 19/9/2023. Quá trình điều tra xác định, khi gặp nhau tại Nghĩa trang thôn H, T mới đưa tiền cho S nhưng chưa nhận được ma túy thì bị Công an phát hiện. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với T về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn S là người không rõ lai lịch tại khu vực đường gom cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ thuộc địa phận Thị trấn X, huyện X vào ngày 18/9/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được đối tượng liên quan nên không có căn cứ làm rõ người bán ma túy để xử lý theo quy định của pháp luật, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án theo các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội «Mua bán trái phép chất ma túy».

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 48 (Bốn mƣơi tám) tháng tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 19/09/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) chiếc phong bì niêm phong ký hiệu M1 và M2, mặt trước mỗi phong bì có hình dấu vuông có ghi Công an TP Hà Nội, đơn vị Công an huyện X, tên đối tượng: Nguyễn Văn S, sinh năm 1987, HKTT: thôn T2, xã M, huyện X, thành phố Hà Nội. Ngày niêm phong 19/9/2023, mặt sau mỗi phong bì có chữ ký của đối tượng và giám định viên. Theo biên bản đóng gói niêm phong ngày 19/9/2023 và Kết luận giám định số 6371/KL - KTHS ngày 26/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội bên trong phong bì ký hiệu M1 có 02 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,140 gam, bên trong phong bì ký hiệu M2 có 08 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,462 gam.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

+ Số tiền 400.000 đồng hiện đang lưu giữ trong tài khoản số 3949.1052760 của Chi cục thi hành án dân sự huyện X, TP Hà Nội mở tại Kho bạc Nhà nước huyện X, TP. Hà Nội do Công an huyện X, TP Hà Nội chuyển khoản theo Ủy nhiệm chi lập ngày 22/11/2023.

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng đã qua sử dụng có số IMEI 1: 359752073749338, số IMEI 2: 359753073749336 lắp sim số 0373218748 thu giữ của Nguyễn Văn S.

Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện X, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/11/2023.

4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ