vanban.org

Bản án 75/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L. Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Bùi Văn T.

Về con chung: chị Nguyễn Thị L và anh Bùi Văn T có 02 (hai) con chung là Bùi Quỳnh P1, sinh ngày 07/12/2015 và Bùi Thanh P2, sinh ngày 17/8/2017. Giao con chung là Bùi Thanh P2, sinh ngày 17/8/2017 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Bùi Quỳnh P1, sinh…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Linh- Thái LH"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L. Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Bùi Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH T
Bản án số: 75A /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13/3 /2023
V/v: ly hôn, tranh chấp về nuôi

con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Hồng Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đăng Thiện

2. Ông Nguyễn Văn Sâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh T tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 263/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2022 về "ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03 ngày 22/02/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1998; có mặt.

Nơi ĐKHKTT: khu phố P, thị trấn L, huyện T, T

Nơi ở hiện nay: khu phố G, thị trấn L, huyện T, T

- Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1987; vắng mặt.

Nơi ĐKHKTT: khu phố P, thị trấn L, huyện T, T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 8 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày: Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Bùi Văn T qua tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức cưới theo P2 tục địa P1 và làm đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Lam (nay là thị trấn L), huyện T, tỉnh T vào ngày 09/01/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 6 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và ly thân từ đó cho đến nay. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, anh T ham chơi, hay ghen tuông vô cớ nên dẫn đến hay xích mích, đánh đập chị. Nay chị xác định không còn tình cảm và mâu thuẫn không thể hàn gắn được, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn T.

Về con chung: chị L xác định vợ chồng có 02 (hai) con chung là cháu Bùi Quỳnh P1, sinh ngày 07/12/2015 và Bùi Thanh P2, sinh ngày 17/8/2017, hiện tại cháu P1 đang ở với anh T, cháu P2 đang ở với chị. Quan điểm của chị là xin được trực tiếp nuôi con chung của anh chị là cháu Bùi Thanh P2, giành quyền nuôi cháu Bùi Quỳnh P1 cho anh T, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ: chị L xác định vợ chồng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Bùi Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại Tòa án, nhưng vắng mặt, nên Tòa án không lấy được lời khai.

Tại Bản tự khai ngày 06/12/2022, cháu Bùi Thị P1, sinh ngày 07/12/2015 trình bày nguyện vọng được ở với Bố.

Tại Biên bản xác minh lập ngày 06/12/2022, đại diện Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T cho biết: chị Nguyễn Thị L và anh Bùi Văn T là vợ chồng, đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Lam (nay là thị trấn L), huyện T ngày 09/01/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ anh T ở thị trấn L, huyện T, T. Vợ chồng có 02 con chung là cháu Bùi Quỳnh P1, sinh ngày 07/12/2015 và Bùi Thanh P2, sinh ngày 17/8/2017. Qúa trình vợ chồng chung sống mâu thuẫn giữa vợ chồng địa P1 không nắm được do gia đình chưa đề nghị UBND thị trấn hòa giải lần nào.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 71; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Về quan hệ hôn nhân: xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L đối với anh Bùi Văn T.

Về con chung: Giao con chung của chị L và anh T là cháu Bùi Thanh P2, sinh ngày 17/8/2017 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, giao cháu Bùi Quỳnh P1, sinh ngày 07/12/2015 cho anh Bùi Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị L, anh T có quyền, nghĩa vụ, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: chị L, anh T không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí dân sự: Các đương sự phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: chị Nguyễn Thị L khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với anh Bùi Văn T, cư trú tại: khu phố P, thị trấn L, huyện T, tỉnh T; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị L và anh Bùi Văn T tự nguyện kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã Xuân Lam( nay là thị trấn L), huyện T, tỉnh T cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/01/2017, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu tình cảm giữa vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên sau đó thì giữa anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng trong sinh hoạt, nên tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Qúa trình giải quyết vụ án, chị L nhất quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T còn anh T không đến Tòa án làm việc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần; về con chung thì chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Thanh P2, sinh ngày 17/8/2017, giành quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Quỳnh P1, sinh ngày 07/12/2015 cho anh Bùi Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Qúa trình giải quyết vụ án anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không đến Tòa án làm việc để trình bày quan điểm, cũng như tham gia các phiên hòa giải, điều đó thể hiện anh T không quan tâm đến việc Tòa án đang giải quyết vụ án, không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị L, xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Bùi Văn T.

[3] Về con chung: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị L trình bày là chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Thanh P2, sinh ngày 17/8/2017, giành quyền cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Quỳnh P1, sinh ngày 07/12/2015, không ai cấp dưỡng nuôi con chung. Do lâu nay cháu P2 đang ở với chị L, cháu P1 đang ở với anh T. Theo quy định tại khoản 1 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình thì: “ Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự ổn định cho con nên cần giao con chung của vợ chồng là cháu Bùi Thanh P2, sinh ngày 17/8/2017 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cho anh T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Bùi Quỳnh P1, sinh ngày 07/12/2015. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị L, anh T có quyền, nghĩa vụ, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

[4] Về phần tài sản và công nợ: chị Nguyễn Thị L và anh Bùi Văn T không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và công nợ. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 71; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5; điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L. Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Bùi Văn T.

2. Về con chung: chị Nguyễn Thị L và anh Bùi Văn T có 02 (hai) con chung là Bùi Quỳnh P1, sinh ngày 07/12/2015 và Bùi Thanh P2, sinh ngày 17/8/2017.

Giao con chung là Bùi Thanh P2, sinh ngày 17/8/2017 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Bùi Quỳnh P1, sinh ngày 07/12/2015 cho anh Bùi Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. không ai cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị L và anh Bùi Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản và công nợ: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0014401 ngày 23/9/2022của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Chị L đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ