vanban.org

Bản án 75/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Bé H và anh Phùng Văn B.

Về con chung: 1. Giao con chung Phùng Phạm Gia B1, sinh ngày 19/6/2013 cho anh Phùng Văn B trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn,nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Bé H và anh Phùng Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH TÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 8 - 2023
V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Kim Ngân Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Đức 2. Ông Trương Văn Ánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trí - là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lê Phương. Ngày 11 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023; về tranh chấp: “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2023/QĐXX-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Bé H, sinh năm 1980. Địa chỉ: tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt). 2. Bị đơn: Anh Phùng Văn B, sinh năm 1978. Địa chỉ: tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/5/2023 và đơn sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 11/7/2023 nguyên đơn chị Phạm Thị Bé H trình bày: Chị và anh Phùng Văn B cưới nhau vào năm 2012, hôn nhân do được mai mối, sau thời gian tìm hiểu và được sự chấp thuận của gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương; đăng ký kết hôn ngày 05/3/2012 tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Nữ trang cưới gồm: 01 đôi bông tai 01 chỉ, sợi dây chuyền 04 chỉ, 01 tấm lắc 04 chỉ; tất cả đều bằng vàng 24K; vợ chồng đã bán tiêu xài hết, không còn. Sau khi cưới vợ chồng sống ở xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Có 01 con chung tên Phùng Phạm Gia B1, sinh ngày 19/6/2013, hiện sống với anh B. Vợ chồng không thiếu nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2019, khi uống rượu vào anh B hay ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng hay cãi nhau và gây gỗ đến mức trầm trọng. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm, chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh B. Về con chung: Phùng Phạm Gia B1, sinh ngày 19/6/2013, chị yêu cầu giải quyết cho anh B được quyền nuôi con, chị không cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản: không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị không còn yêu cầu nào khác.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/7/2023 anh Phùng Văn B trình bày: Anh và chị Phạm Thị Bé H do được mai mối nên tiến đến hôn nhân và tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương; có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Có tặng cho nữ trang cưới nhưng anh không nhớ vật gì và bao nhiêu vàng; nhưng số vàng này vợ chồng đã bán để làm ăn, không còn. Sau khi cưới, vợ chồng sống tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long; có một con chung tên Phùng Phạm Gia B1, sinh ngày 19/6/2013 hiện sống với anh. Mâu thuẫn dẫn đến việc chị Bé H xin ly hôn là do anh nghi ngờ chị Bé H có người đàn ông khác bên ngoài nên anh ghen tuông, vợ chồng hay cự cãi. Thời gian gần đây, anh nhận thấy bản thân mình sai và có năn nỉ chị Bé H nhưng không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Nay, chị Bé H xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn vì anh còn thương vợ, anh luôn cố gắng sửa đổi để vợ chồng đoàn tụ. Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn; về con chung: Phùng Phạm Gia B1, sinh ngày 19/6/2013, anh yêu cầu được quyền nuôi con, không yêu cầu chị Bé H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: anh và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/7/2023 cháu Phạm Gia B1 trình bày: trong trường hợp Tòa án giải quyết cho cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng sống với cha.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

+ Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Bé H. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Bé H. Về con chung: giao Phùng Phạm Gia B1, sinh ngày 19/6/2013 cho anh B tiếp tục nuôi dưỡng; chị Bé H không cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản: không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí chị Bé H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Phạm Thị Bé H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Phùng Văn B, anh B có nơi cư trú thuộc huyện B nên tranh chấp và quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Nguyên đơn chị Phạm Thị Bé H và bị đơn anh Phùng Văn B xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Bé H và anh Phùng Văn B tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Bé H là có cơ sở. Bởi lẽ quá trình chung sống anh chị bất đồng quan điểm với nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn hạnh phúc. Từ lâu đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng phải thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng không còn quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Bé H xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh B, chị yêu cầu được ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Bé H được ly hôn anh B là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Phùng Phạm Gia B1, sinh ngày 19/6/2013.

Chị Bé H yêu cầu giải quyết cho anh B được quyền nuôi con. Xét thấy từ khi chị Bé H và anh B không còn sống chung, anh B là người trực tiếp nuôi con, cuộc sống của con vẫn được đảm bảo; anh B đồng ý tiếp tục nuôi con; phù hợp với nguyện vọng của cháu Gia B1 sống với cha. Do đó Hội đồng xét xử xem xét giao con cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Theo quy định của pháp luật thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, tuy nhiên anh B không yêu cầu chị Bé H cấp dưỡng nuôi con do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về chia tài sản: chị Phạm Thị Bé H và anh Phùng Văn B không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: chị Phạm Thị Bé H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Bé H và anh Phùng Văn B.

2. Về con chung:

2.1. Giao con chung Phùng Phạm Gia B1, sinh ngày 19/6/2013 cho anh Phùng Văn B trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: anh B không yêu cầu chị Bé H cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Chị Phạm Thị Bé H có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu P Phạm Gia B1 được sống chung với anh Phùng Văn B.

Chị Phạm Thị Bé H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; đồng thời người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về chia tài sản: chị Phạm Thị Bé H và anh Phùng Văn B không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: chị Phạm Thị Bé H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do chị Bé H nộp theo biên lai thu số 0003016 ngày 09/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân. Vậy chị Bé H đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ