vanban.org

Bản án 75/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 27/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Bàn Văn C, Nông Thanh M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bàn Văn C 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 20/7/2022. Xử phạt: Nông Thanh M 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/7/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Văn C và Nông Thanh M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Bàn Văn C, Nông Thanh M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2022/HSST
Ngày 27/9/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Long.

Hội thẩm nhân dân: Ông Y Manh A Drơng.

Ông Lê Ngọc Tuân.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Hằng Nga - Thư ký TAND huyện Ea H’Leo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên toà: ông Hồ Quang Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại Phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 62/2022/HSST, ngày 08 tháng 9 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bàn Văn C, sinh năm 1980; tại tỉnh Bắc Cạn; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký TT và chỗ ở hiện nay: thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 1/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông: Bàn Văn S và bà Triệu thị K (đều đã chết); vợ là Lý Thị V; bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/7/2022, chuyển tạm giam ngày 26/7/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ea H’Leo; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nông Thanh M, sinh năm 1983; tại tỉnh Thái Nguyên; Tên gọi khác: không; CCCD 019083010164, do cục cảnh sát QLHC-TTXH cấp ngày 12/7/2021; Nơi đăng ký TT: xóm Đ, xã T, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú trước khi bị bắt: thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: không; con ông: Nông Văn Th (đã chết) và bà Ngô Thị Th; vợ là Bàn Thị Y; bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2010;

Tiền án: không; Tiền sự: ngày 02/11/2021 bị Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000đ về hành vi “trộm cắp tài sản”; ngày 15/11/2021 bị Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi “trộm cắp tài sản”;

Nhân thân: Bản án số 81/2015/HSST ngày 24/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên, xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng và phạt bổ sung 3.000.000đ về tội đánh bạc, đã chấp hành xong hình phạt chính, chưa chấp hành hình phạt bổ sung và án phí HSST;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/7/2022 chuyển tạm giam ngày 26/7/2022 tại nhà tạm giữ Công an huyện EaH’Leo, bị cáo có mặt tại phiên tòa;

- Bị hại: Bà Huỳnh Thị Minh Ng.

Địa chỉ: thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phú Q.

Địa chỉ: thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền mua ma túy sử dụng, nên khoảng 16 giờ ngày 08/7/2022 Bàn Văn C rủ Nông Thanh M đi lấy trộm bơm nước của bà Huỳnh Thị Minh Ng, tại Thôn B, xã E, huyện E thì M đồng ý và đi đến hồ nước của bà Ng để lấy trộm bơm nước, M đi trước và lấy trộm bơm nước vác lên khỏi hồ thì C đến. Khi gặp nhau M giấu bơm vào gốc cà phê và nói với C đi về lấy xe máy đến chở bơm đi bán, rồi cả hai đi về nhà ông Bàn Văn L (anh trai của C, anh rể của M) M thấy chìa khóa để trên xe, còn anh L đang ngủ nên M tự ý lấy xe mô tô của anh L chở C đến chỗ đã cất giấu bơm nước rồi khiêng bơm bỏ lên ba ga xe chở đến cửa hàng điện nước tổng hợp QH (thôn H, xã E) bán cho ông Q với giá 1.500.000đ, M chia cho C 700.000đ còn 800.000đ M giữ. Số tiền này sau đó M và C đã mua ma túy để sử dụng hết.

Ngày 19/7/2022 Nông Thanh M đến Công an xã E tự thú khai báo về hành vi phạm tội của mình và Bàn Văn C; ngày 20/7/2022 sau khi nghe tin M đã bị Công an tạm giữ thì Bàn Văn C cũng đến Công an xã E đầu thú.

Về vật chứng: Cơ quan Công an thu giữ 01 cái bơm nước hiệu Daphovina 7HP do ông Nguyễn Phú Q giao nộp, Cơ quan điều tra đã giao trả cho chủ sở hữu hợp pháp bà Huỳnh Thị Minh Ng.

Tại Biên bản định giá tài sản số 492/KL-HDDGTS ngày 20/7/2022, của Hội đồng định giá tài sản huyện E, kết luận: 01 Bơm nước hiệu Daphovina 7HP có giá trị là 3.000.000đ.

Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 08/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo truy tố Bàn Văn C và Nông Thanh M, về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố Bàn Văn C, Nông Thanh M phạm tội “trộm cắp tài sản”. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt Bàn Văn C từ 06 đến 09 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt Nông Thanh M từ 09 đến 12 tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo, giao trả 01 Bơm nước hiệu Daphovina 7HP cho bà Huỳnh Thị Minh Ng.

*Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không xem xét.

Buộc các bị cáo phải trả lại cho ông Nguyễn Phú Q số tiền ông đã mua bơm nước là 1.500.000đ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa Bàn Văn C và Nông Thanh M khai nhận chiều ngày 08/7/2022 các bị cáo đã thực hiện hành vi lấy trộm 01 cái bơm nước hiệu Daphovina 7HP của bà Huỳnh Thị Minh Ng và đem bán cho ông Nguyễn Phú Q với giá 1.500.000đ rồi chia nhau, Mừng 800.000đ, Cao 700.000đ để mua ma túy sử dụng. Bị cáo Bàn Văn C là người khởi xướng. Giá trị tài sản các bị cáo lấy trộm được định giá là 3.000.000đ.

Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đủ nhận thức biết việc làm của mình là phạm tội, nhưng do bản tính lười lao động, nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài, hút chích nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trang của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

1.“Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác mà còn gây mất ổn định về an ninh, trật tự tại địa phương. Nạn trộm cắp tài sản, ngày càng có chiều hướng gia tăng, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Mặt khác các bị cáo là người nghiện ma túy. Do vậy, cần có hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật.

Trong vụ án này có 02 bị cáo tham gia thực hiện tội phạm thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Khi lượng hình cần phân hóa vai trò, nhân thân của từng bị cáo để có hình phạt phù hợp;

Đối với Bàn Văn C là người khởi xướng, rủ rê đồng thời cũng là người tham gia thực hiện tội phạm, nên bị cáo có vai trò cao hơn.

Đối với Nông Thanh M tuy không phải là người khởi xướng, nhưng M là người thực hiện tội phạm một các tích cực hơn, bị cáo là người đến trước và lấy trộm bơm từ hồ nước mang lên bờ sau đó C mới đến, đồng thời M là người có nhân thân xấu và có 02 tiền sự về hành vi “trộm cắp tài sản”, do vậy cần có hình phạt tương xứng ngang bằng với bị cáo C.

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội mặc dù chưa bị phát hiện nhưng ngày 19/7/2022 bị cáo M đã đến Công an xã E tự thú khai báo về hành vi phạm tội của mình và Bàn Văn C đã thực hiện; tiếp đó ngày 20/7/2022 khi nghe tin M đã bị Công an tạm giữ thì C cũng đến Công an xã E để đầu thú; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, giá trị tài sản nhỏ đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu; các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế; bị cáo C phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, HĐXX cần áp dụng cụ thể đối với từng bị cáo ứng với các tình tiết mà mỗi bị cáo được hưởng nhằm giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo.

Xét mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo Bàn Văn C là phù hợp nên chấp nhận. Đối với bị cáo Nông Thanh M, Kiểm sát viên xác định bị cáo có 01 tiền án và đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm”, là không phù hợp, bỡi lẽ năm 2015 bị cáo bị xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 BLHS 1999 nhưng tại chiếu bạc mà bị cáo tham gia chỉ có 4.690.000đ, theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 thì hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “đánh bạc”. Tuy nhiên theo quy định tại Điều 321 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì với số tiền đánh bạc trên chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm; theo Nghị Quyết 41/2017 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 sử đổi bổ sung năm 2017 thì hành bản án này đương nhiên đã được xóa án tích, nên không được tính là tiền án. Do vậy, mức hình phạt mà kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là cao nên cần xem xét lại khi lượng hình.

Về xử lý vật chứng: Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo, ra Quyết định xứ lý vật chứng giao trả 01 bơm nước hiệu Daphovina 7HP cho bà Huỳnh Thị Minh Ng là đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phú Q yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền mà ông đã mua bơm nước 1.500.000đ là có căn cứ, cần buộc các bị cáo phải trả cho ông Q số tiền trên tương ứng với số tiền mà các bị cáo được chia. Cụ thể bị cáo C phải trả lại 700.000đ, bị cáo M phải trả lại 800.000đ.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Đối với ông Nguyễn Phú Q là người đã mua cái bơm nước do các bị cáo trộm cắp mà có nhưng ông không biết đó là tài sản do bị cáo trộm cắp nên không cấu thành tội phạm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Bàn Văn C, Nông Thanh M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bàn Văn C 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 20/7/2022.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Nông Thanh M 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/7/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự;

Buộc bị cáo Bàn Văn C phải trả lại cho ông Nguyễn Phú Q 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng); buộc bị cáo Nông Thanh M phải trả lại cho ông Nguyễn Phú Q 800.000đ (tám trăm nghìn đồng).

Áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, để tính lãi suất đối với số tiền chậm thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo, xử lý vật chứng giao trả 01 bơm nước hiệu Daphovina 7HP cho bà Huỳnh Thị Minh Ng.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc Bàn Văn C phải nộp 200.000đ án phí HSST và 200.000đ án phí DSST. Buộc Nông Thanh M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 200.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ