vanban.org

Bản án 75/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 26/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.

Tạm giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, số Imei: 350804633196739/10 (đã qua sử dụng) của bị cáo Lưu Việt H để đảm bảo thi hành án. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 - Bộ luật tố tụng hình sự ; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Việt H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2022/HS - ST
Ngày 26/7/2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Kim Phượng

Các hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thanh Thủy

Bà Vũ Thị Lan Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Trịnh Ngọc Thạch - Kiểm sát viên.

Ngày 26/7/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2022/TLST- HS ngày 23/6/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2022/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lƣu Việt H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/5/1982.

Tại huyện B, tỉnh Lào Cai; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Tổ 13, phường K, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Chỗ ở: Tổ 10, phường C, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lưu Công H (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Khánh Đ; Bị cáo có vợ: Vũ Thị Lan P – Sinh năm 1981 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con sinh năm 2012; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Về nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 85/2012/HSST ngày 17/7/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử 02(Hai) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 55 phút ngày 15/5/2022, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Lào Cai phối hợp với Công an phường B, làm nhiệm vụ tại khu vực đường Võ N thuộc tổ 7, phường B, thành phố Lào Cai phát hiện một người nam giới đang dừng đỗ xe máy BKS 24B1-872.15 ở lán gửi xe của bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma tuý. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, đối tượng khai nhận họ tên là Lưu Việt H và khai nhận bản thân đang cất giấu ma tuý trên người. Tổ công tác mời người chứng kiến là anh Lưu Quang Đức (sinh năm 1960, trú tại thôn B, xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai), H tự lấy từ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc giao nộp 01 gói nilon, mở kiểm tra bên trong là lớp giấy bạc màu trắng chứa chất bột khô màu trắng, vón cục. H khai nhận đây là ma tuý Heroine của H cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác dẫn giải H cùng vật chứng và phương tiện về trụ sở Công an phường B tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của Lưu Việt H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 24B1-872.15 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.

Bị cáo Lưu Việt H khai nhận nguồn gốc số ma túy Heroine đã thu giữ:

Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 15/5/2022, Lưu Việt H điều khiển xe máy, biển kiểm soát 24B1 - 872.15 đi từ nhà đến khu vực đường quốc lộ 4D, Km6 thuộc thôn L, xã C, thành phố Lào Cai, mục đích tìm mua ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi H gặp một người nữ giới (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng một mình ở ven đường. H hỏi: “Có hàng không để anh một trăm”, người nữ giới trả lời: “Có! Đưa tiền đây”. H đưa cho người nữ giới trên 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng). Người nữ giới đưa cho H 01 túi nilon, bên trong chứa ma túy Heroine. H cầm gói ma túy vừa mua được cho vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe máy đi đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai. Hồi 15 giờ 50 phút ngày 15/5/2022, khi H đang dừng đỗ xe máy tại lán để xe của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai thuộc tổ 7, phường B, thành phố Lào Cai thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Tại kết luận giám định số: 127/KL - GĐMT ngày 18/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,30 (không phẩy ba mươi) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.

Cáo trạng số: 65 /CT-VKS- TPLC ngày 22/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Lưu Việt H về tội “ Tàng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lưu Việt H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lưu Việt H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lưu Việt H từ 01(Một) năm 03(Ba) tháng ®Õn 01(Một) n¨m 06 (Sáu) tháng tù. Không áp dông h×nh ph¹t bæ sung lµ “Ph¹t tiÒn” ®èi víi bÞ c¸o.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 0,19 (không phẩy mười chín) gam Heroine cßn lại được ®ùng trong b× thư tái niªm phong cã ch÷ ký cña hai bªn giao nhËn vµ dÊu cña phßng KTHS - C«ng an tØnh Lµo Cai. B× niªm phong cã ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Lưu Việt H ngày 15/5/2022 tại tổ 7, phường B, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.

Tạm giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, số Imei: 350804633196739/10 (đã qua sử dụng) của bị cáo Lưu Việt H để đảm bảo thi hành án.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lưu Việt H nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo Lưu Việt H khai nhận: Ngày 15/5/2022, bị cáo Lưu Việt H đã có hành vi đi mua 0,30 (không phẩy ba mươi) gam ma tuý Heroine với giá 100.000đồng (một trăm nghìn đồng). Mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Lêi khai nhËn téi cña bÞ c¸o tại phiên toà hoµn toµn phï hîp víi lêi khai t¹i c¬ quan ®iÒu tra, phï hîp víi lêi khai người lµm chøng, phù hợp với bản kết luận giám định cïng c¸c tµi liÖu chøng cø khác cã trong hå s¬ vụ án. Như vậy đã đủ căn cứ kết luận hành vi tàng trữ 0,30 (không phẩy ba mươi) gam ma túy của bị cáo đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự. ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n thành phố Lào Cai truy tè bÞ cáo lµ hoµn toµn ®óng người, ®óng téi, ®óng ph¸p luËt.

Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi, ®· x©m ph¹m ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý c¸c chÊt ma tuý cña Nhµ nước ta, g©y mÊt trËt tù trÞ an t¹i ®Þa phương. V× vËy cÇn ph¶i xö ph¹t bÞ c¸o mét møc ¸n thËt tương xøng víi tÝnh chÊt møc ®é hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o ®· g©y ra míi cã t¸c dông c¶i t¹o bÞ c¸o.

Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo Lưu Việt H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 85/2012/HSST ngày 17/7/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử 02(Hai) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được xóa án tích.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy t¹i c¬ quan ®iÒu tra vµ t¹i phiªn toµ bÞ c¸o thµnh khÈn khai nhËn hµnh vi ph¹m téi cña m×nh. Gia đình bị cáo có bố đẻ là ông Lưu Công Hoan được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Nhất. Mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Khánh Đa được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Nhất và Huy chương vì sự nghiệp giáo dục. V× vËy cÇn ¸p dông ®iÓm s kho¶n 1, khoản 2 §iÒu 51 - Bộ luật hình sự ®Ó gi¶m nhÑ mét phÇn h×nh ph¹t cho bÞ c¸o lµ phï hîp.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra đã xác định bÞ c¸o kh«ng cã nghÒ nghiÖp vµ kh«ng cã thu nhËp æn ®Þnh nªn kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung lµ “Ph¹t tiÒn” ®èi víi bÞ c¸o.

Về vật chứng: Số lượng 0,30 (không phẩy ba mươi) gam Heroine thu giữ của bị cáo cơ quan điều tra đã trích mẫu 0,11 (không phẩy mười một) gam và đã sử dụng hết trong quá trình giám định. Số lượng Heroine còn lại là 0,19 (không phẩy mười chín) gam. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ. Vì vậy cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Imei: 350804633196739/10 (đã qua sử dụng) của bị cáo Lưu Việt H. Xét thấy không phải là vật chứng của vụ án nhưng bị cáo Lưu Việt H còn phải thi hành khoản tiền án phí. Vì vậy, cần phải tạm giữ để đảm bảo thi hành án. [6] Về các vấn đề khác: Đối với người nữ giới bán ma tuý cho bị cáo Lưu Việt H ngày 15/5/2022 tại khu vực đường quốc lộ 4D, Km6, thuộc thôn L, xã C, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai bị cáo H không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu nào khác để chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai không điều tra làm rõ được, khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS: 24B1- 872.15 tạm giữ của bị cáo Lưu Việt H, chủ sỡ hữu chiếc xe trên là của bà Nguyễn Thị Khánh Đ(sinh năm 1947, trú tại tổ 13, phường K, thành phố Lào Cai) là mẹ đẻ của bị cáo cho bị cáo mượn. Bà Đ không biết việc bị cáo H sử dụng chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện phạm tội nên ngày 14/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai ra quyết định xử lý vật chứng số 55 trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà Đ là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lưu Việt H phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Lưu Việt H 01(Một) năm 03(Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 15/5/2022.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 0,19 (không phẩy mười chín) gam Heroine cßn l¹i được đựng trong bì thư tái niªm phong cã ch÷ ký cña hai bªn giao nhËn vµ dÊu cña phßng KTHS - C«ng an tØnh Lµo Cai. B× niªm phong cã ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Lưu Việt H ngày 15/5/2022 tại tổ 7, phường B, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.

Tạm giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, số Imei: 350804633196739/10 (đã qua sử dụng) của bị cáo Lưu Việt H để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 - Bộ luật tố tụng hình sự ; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n. Buộc bị cáo Lưu Việt H ph¶i chÞu 200.000đồng (Hai tr¨m nghìn ®ång) tiÒn ¸n phÝ hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ