- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2022/HS-ST Ngày 17-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thoan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Oanh;
2. Ông Lại Văn Cán.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Đặng Văn Th, sinh ngày 01 tháng 4 năm 1993 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Đặng Văn M (đã chết) và bà: Trần Thị T; có vợ: Lê Thị Bảo K và 02 con; nhân thân: Bản án số 87/2012/HSPT ngày 26 tháng 9 năm 2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 15 tháng 7 năm 2022 đến ngày 21 tháng 7 năm 2022 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số nhà 6/5, ngõ 159, tổ 4, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt
2. Anh Trương Văn Đ, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Văn Th sử dụng ma túy từ năm 2016, hiện sử dụng dưới hình thức tiêm chích trực tiếp vào tĩnh mạch. Khoảng 06 giờ ngày 15 tháng 7 năm 2022, Th điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 17B2-455.04 từ nhà tại Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình lên thành phố Thái Bình để tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đến khu đô thị Petro thuộc phường Q, thành phố T, Th vào một hiệu thuốc tân dược mua 02 xi lanh và 03 ống novocain với giá 5.000 đồng (để sử dụng ma túy) rồi cất giấu vào túi quần dài bên trái phía trước đang mặc, điều khiển xe đi trên đường thì gặp một nam thanh niên không quen biết đứng ở vệ đường, Th hỏi và mua của người này 01 gói nhỏ ma túy được gói bằng giấy tráng kim màu trắng với giá 200.000 đồng, Th không mở ra kiểm tra mà cất giấu vào bên trong túi quần dài bên phải phía trước đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về xã T, huyện V, mục đích tìm nơi để sử dụng ma túy. Khi Th đang dừng xe gần nghĩa trang thôn L, xã T thì bị lực lượng Công an huyện Vũ Thư dừng xe kiểm tra. Tổ công tác mời người dân chứng kiến, tiến hành kiểm tra và thu giữ tại túi quần dài bên trái phía trước Th đang mặc 02 xi lanh, 03 ống Novocain; tại túi quần dài bên phải phía trước 01 gói nhỏ được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng cục. Th khai nhận là Heroine mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã dẫn giải Th đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã Trung An lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng; quản lý tài sản của Th 01 xe mô tô.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Kết luận giám định số 291/KL-KTHS(MT) ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1722 gam (không phẩy một nghìn bảy trăm hai mươi hai gam). Heroine STT: 09, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 và Nghị định 60/2020/NĐ-CP ngày 29 tháng 5 năm 2020 của Chính Phủ”.
Cáo trạng số 75/CT-VKSVT ngày 20 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Đặng Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn Th từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,1563 gam ma túy, loại Heroine hoàn trả sau giám định trong phong bì số 291/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; 02 xilanh và 03 ống Novocain.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, với hành vi cáo trạng đã mô tả và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định; biên bản ghi lời khai của những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 07 giờ 00 phút ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại đường DH 07 thuộc thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện Vũ Thư phát hiện, bắt quả tang Đặng Văn Th có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine, có khối lượng 0,1722 gam (Không phẩy một nghìn bảy trăm hai mươi hai gam) tại túi quần dài bên phải phía trước đang mặc, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…..
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 Có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Trong những năm gần đây, tình hình tệ nạn ma túy đã và đang trở thành hiểm họa lớn của toàn nhân loại. Ma túy gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình. Đặc biệt, ma túy còn là nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù biết rõ tác hại của ma túy cũng như mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm thể hiện sự coi thường pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội “Cướp tài sản” vào năm 2012.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập không ổn định; bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng và không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng, tài sản thu giữ:
Đối với 0,1563 gam ma túy, loại Heroine hoàn trả sau giám định niêm phong trong phong bì số 291/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật chứng của vụ án, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ; 02 xilanh và 03 ống Novocain bị cáo mua để sử dụng ma túy, không còn giá trị cần tịch thu để tiêu huỷ.
Đối với chiếc xe mô tô biển đăng ký 17B2 - 455.04 là tài sản hợp pháp của bị cáo, đây là phương tiện đi lại, không phải là vật chứng của vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho vợ của bị cáo là chị Lê Thị Bảo Khanh là phù hợp với quy định pháp luật tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về vấn đề khác trong vụ án: Đối với người nam giới bán ma tuý cho bị cáo ở khu đô thị E, phường Q, thành phố T. Bị cáo khai không biết địa chỉ cụ thể, qua xác minh không có người đàn ông như đặc điểm mô tả của bị cáo nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn Th 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 7 năm 2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đặng Văn Th.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,1563 gam ma túy, loại Heroine hoàn trả sau giám định niêm phong trong phong bì số 291/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; 02 xilanh và 03 ống Novocain.
(Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư theo biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án ngày 21 tháng 10 năm 2022 và Phiếu nhập kho đề ngày 21 tháng 10 năm 2022).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đặng Văn Th phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
“Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Đặng Văn Th có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17 tháng 11 năm 2022).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Lưu HS, HCTP THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Huyền |