vanban.org

Bản án 75/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 15/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lô Văn Ngh phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lô Văn Ngh 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 12/02/2022. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lô Văn Ngh, Bùi Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lô Văn Ngh phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆNVÂN HỒ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2022/HS-ST.
Ngày: 15- 8-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Thu Thủy

Ông Mùi Văn Huấn

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnVân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hương Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2022/TLST- ST ngày 08 tháng 07 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 07 năm 2022, đối với các bị cáo.

1.Lô Văn Ngh, tên gọi khác: Không, sinh năm 1998; sinh tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn N, xã Th, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lô Văn H, sinh năm 1977 và bà Đàm Thị M, sinh năm 1978, bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án: Bản án số 72/2018/HSST ngày 12/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Lô Văn Ngh 02 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Lô Văn Ngh chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/8/2020.

- Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 12 tháng 02 năm 2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện V cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Bùi Văn D, tên gọi khác: Không, sinh năm 2000, sinh tại huyện L, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm L, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn N, sinh năm 1974 và bà Bùi Thị S, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 12 tháng 02 năm 2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện V cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo Lô Văn Ngh: Ông Nguyễn Phương Vũ - Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn D: Ông Đặng Văn Quảng - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lô Văn Ngh và Bùi Văn D là bạn cùng sử dụng ma túy với nhau. Vào khoảng 09 giờ ngày 12/02/2022, D đi từ nhà tại Xóm L, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình đến phòng trọ của Ngh tại khu Phố Đ, Phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Khi gặp nhau, Ngh rủ D lên khu vực huyện V, tỉnh Sơn La để mua ma tuý về sử dụng chung, D đồng ý. Sau đó Ngh sử dụng điện thoại di động của D gọi đến số điện thoại 0344452725 của một người đàn ông dân tộc Mông, không quen biết. Ngh hỏi mua của người đàn ông dân tộc Mông đó 13.000.000 đồng tiền Heroine và Hồng phiến. Người đàn ông đó đồng ý, hẹn Ngh đi đến khu vực ngã ba V, huyện V, tỉnh Sơn La để mua bán ma túy. D và Ngh thỏa thuận thống nhất, D góp 6.500.000 đồng, Ngh góp 7.500.000 đồng (tổng 14.000.000 đồng bao gồm cả chi phí mua ma túy và chi phí đi đường), D là người cầm tiền. Sau đó cả hai đón xe khách đi lên khu vực ngã ba V, huyện V, tỉnh Sơn La. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, cả hai đến khu vực ngã ba V thuộc địa phận bản B, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La thì xuống xe ô tô khách. Ngh gọi điện cho người đàn ông dân tộc Mông để thông báo. Khoảng 10 phút sau, người đàn ông dân tộc Mông đến, đứng cách vị trí của Ngh và D khoảng 200 mét. Lúc này, D đưa cho Ngh 13.000.000 đồng, D đứng chờ, còn Ngh đi đến vị trí người đàn ông dân tộc Mông đó. Qua trao đổi, Ngh mua được của người đàn ông đó: 01 gói Heroine và 01 gói Hồng phiến được để trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long với giá 13.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Ngh quay lại và đưa cho D cất giấu gói Heroine, còn Ngh cất giấu gói Hồng phiến. Sau đó cả hai đi đến bãi đất trồng gần đó rồi cùng nhau sử dụng một ít Heroine. Sau khi sử dụng ma tuý xong cả hai đi bộ ra ngã ba V để đón xe khách đi về. Đến 23 giờ 30 phút ngày 12/02/2022, khi Ngh và D đang đứng chờ xe ô tô khách tại khu vực bản B, xã V, huyện V thì bị tổ công tác Công an huyện V kiểm tra, phát hiện thu giữ trong túi áo khoác bên phải, phía trước đang mặc trên người Lô Văn Ngh: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong đựng 01 gói bên ngoài là lớp giấy bạc, tiếp đến là lớp nilon màu hồng, trong cùng đựng các viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine. Thu giữ trong túi quần bên phải, phía trước đang mặc trên người của Bùi Văn D: 01 gói bên ngoài được dán bằng lớp băng dính màu trắng, tiếp đến là hai lớp nilon màu hồng, trong cùng đựng chất bột màu trắng nghi là Heroine. Đồng thời Lô Văn Ngh và Bùi Văn D khai là ma túy của Ngh và D, cất giấu để cùng sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Ngh và D tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng nghi là ma túy có đặc điểm nêu trên và dẫn giải Ngh và D về trụ sở Công an huyện V để điều tra, làm rõ. Thu giữ của Ngh: 160.000 đồng, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu NOKIA; Thu giữ của D: 195.000 đồng, 01 chiếc bật lửa gas.

Ngày 13/02/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã phối hợp với VKSND huyện V và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành kiểm đếm số lượng, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Lô Văn Ngh và Bùi Văn D:

+ Số chất bột màu trắng nghi là Heroine có tổng khối lượng là 18,23 gam. Lấy 0,24 gam làm mẫu giám định ký hiệu “D”.

+ Số 137 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có ký hiệu “WY” nghi là Methamphetamine có tổng khối lượng là 14,23 gam. Lấy 05 viên có khối lượng 0,51 gam làm mẫu giám định ký hiệu “N”.

Mẫu giám định “D”, “N” được bàn giao lại cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.

Tại kết luận giám định số 369 ngày 15/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu N là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của các mẫu gửi giám định là 0,51 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu D là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,24 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 14,23 gam loại Methamphetamine và 18,23 gam loại Heroine.”

Cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 07/7/2022 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lô Văn Ngh, Bùi Văn D về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như cáo trạng; qua phân tích đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Lô Văn Ngh, Bùi Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58 ; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lô Văn Ngh mức án từ 10 năm 06 tháng tù đến 11 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58 ; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn D mức án từ 10 năm tù đến 10 năm 06 tháng tù năm tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo

- Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:

- 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 17,99 gam Heroine và 13,72 gam Methamphetamine, 02 vỏ gói niêm phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng Test thử ma túy; 01 chiếc bật lửa gas màu xanh, đã qua sử dụng cũ.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại 1280 vỏ màu đen, có số imel: 351546006700684 bên trong có một sim điện thoại có số: 0799232751, đã qua sử dụng cũ;

- Trả lại Lô Văn Ngh số tiền: 160.000 đồng.

- Trả lại Bùi Văn D số tiền: 195.000 đồng.

- Ý kiến của luật sư Nguyễn Phương Vũ bào chữa cho bị cáo Lô Văn Ngh: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Lô Văn Ngh các Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Tuy nhiên, sau khi bị bắt bị cáo Lô Văn Ngh đã thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo là người nghiện ma túy không có tài sản và điều kiện để thi hành. Miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

- Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý ông Đặng Văn Quảng bào chữa cho bị cáo Bùi Văn D: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Bùi Văn D các Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Tuy nhiên, sau khi bị bắt bị cáo Bùi Văn D đã thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo là người nghiện ma túy không có tài sản và điều kiện để thi hành. Miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

- Ý kiến của các bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên. Nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa không có tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố Lô Văn Ngh, Bùi Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa các bị cáo Lô Văn Ngh; Bùi Văn D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 12/02/2022, Lô Văn Ngh và Bùi Văn D đã có hành vi cất giấu trái phép 14,23 gam Methamphetamine và 18,23 gam Heroine (tổng cộng là 32,46 gam) mục đích để sử dụng chung thì bị tổ công tác Công an huyện V làm nhiệm vụ tại khu vực bản B, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang. Căn cứ Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 và mục I phụ lục kèm theo thì tổng khối lượng của 02 chất Heroine và Methamphetamine thu giữ của các bị cáo là: 18,23 gam + 14,23 gam = 32,46 gam. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Lô Văn Ngh, Bùi Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lô Văn Ngh đã bị kết 02 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng là tái phạm. Là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội.

- Xét vai trò đồng phạm trong vụ án: Bị cáo Lô Văn Ngh là người khởi xướng, rủ Bùi Văn D đi mua ma túy, góp tiền mua ma túy và trực tiếp mua ma túy. Bị cáo Bùi Văn D tiếp nhận ý trí cùng góp tiền, cùng đi mua ma túy với Lô Văn Ngh. Nên Lô Văn Ngh và Bùi Văn D là đồng phạm với nhau; Ngh giữ vai trò chính trong vụ án nên phải chịu mức hình phạt nặng hơn Bùi Văn D.

- Xét ý kiến của Luật sư bào chữa cho Lô Văn Ngh: Hội đồng xét xử thấy, bị cáo là người có vai trò chính trong vụ án, bản thân bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm nên không chấp nhận đề nghị của luật sư cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. Bị cáo phải chịu mức án nghiêm khắc hơn đồng phạm còn lại. Về vấn đề khác việc đề nghị của luật sư là phù hợp đúng quy định nên được chấp nhận.

- Xét ý kiến của Luật sư bào chữa cho Bùi Văn D: Hội đồng xét xử thấy, bị cáo là đồng phạm trong vụ án, không phải là vai trò chính, khối lượng ma túy ở mức khởi điểm của khung hình phạt. Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên chấp nhận ý kiến đề nghị của người bào chữa.

Vì Vậy, cần áp dụng mức án phù hợp với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

- Các bị cáo đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

- Ngoài hình phạt chính là phạt tù các bị cáo có thể bị chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra xác định chủ thuê bao số 0344452725 là anh Nguyễn Đình T, sinh năm: 2000, trú tại: Tổ 12, Ấp 4, xã Tr, huyện B, tỉnh B. Ngh và D khẳng định anh T không phải là người bán ma túy cho Ngh và D. Do Ngh và D không biết họ, tên địa chỉ của người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy nên cơ quan CSĐT Công an huyện V không có căn cứ để tiến hành điều tra xử lý.

. Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 17,99 gam Heroine và 13,72 gam Methamphetamine, 02 vỏ gói niêm phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng Test thử ma túy; 01 chiếc bật lửa gas màu xanh, đã qua sử dụng cũ là những vật cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại 1280 vỏ màu đen, có số imel: 351546006700684 bên trong có một sim điện thoại có số: 0799232751, đã qua sử dụng cũ là tài sản sử dụng liên lạc mua ma túy nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 160.000 đồng thu giữ của Lô Văn Ngh và 195.000 của Bùi Văn D là số tiền của các bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, tuyên trả lại các bị cáo.

. Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khóa khăn nên miễn toàn bộ án phí HSST cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm h khoản 3 Điều 249, khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Lô Văn Ngh phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Lô Văn Ngh 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 12/02/2022.

2. Căn cứ vào điểm h khoản 3 Điều 249, khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Bùi Văn D 10 (Mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 12/02/2022.

Không phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 17,99 gam Heroine và 13,72 gam Methamphetamine, 02 vỏ gói niêm phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng Test thử ma túy; 01 chiếc bật lửa gas màu xanh, đã qua sử dụng cũ.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại 1280 vỏ màu đen, có số imel: 351546006700684 bên trong có một sim điện thoại có số: 0799232751, đã qua sử dụng cũ.

- Trả lại Lô Văn Ngh số tiền: 160.000 đồng

- Trả lại Bùi Văn D số tiền: 195.000 đồng

- Theo biên bản giao nhận vật chứng số: 72/BBVC-CCTHA ngày 11 tháng 07 năm 2022.

4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Miễn toàn bộ án phí HSST cho các bị cáo.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ