vanban.org

Bản án 75/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Trà Vinh Tuyên án 14/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh L.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh L phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh L.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2022/HS-PT
Ngày 14-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến

Các Thẩm phán: Ông Trịnh Minh Tự

Ông Nguyễn Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Chí Tâm-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 66/2022/HS-PT, ngày 17 tháng 8 năm 2022 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1973, tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1937 và bà Lê Thị Ngọc L, sinh năm 1942; bị cáo chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: tốt; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/02/2022 đến ngày 13/4/2022 chuyển sang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng do không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 16 tháng 01 năm 2018, Công an huyện C nhận được tin báo của nhân dân tại nhà bị cáo Nguyễn Thị Thanh L đang ghi số đầu, số đuôi bán cho con bạc. Sau khi nhận được tin báo, Công an huyện C kết hợp Công an thị trấn C tiến hành kiểm tra địa điểm trên thì phát hiện và bắt quả tang bị cáo L đang chuyển phơi số đề cho người khác.

Kết quả cộng phơi và làm việc xác định: ngày 16 tháng 01 năm 2018, bị cáo Nguyễn Thị Thanh L ghi biên số đề bán cho các con bạc ở 03 đài xổ số kiến thiết các tỉnh Bến Tre, Bạc Liêu và Bà Rịa - Vũng Tàu với số tiền cụ thể như sau:

1. Người phụ nữ tên Liễu không rõ nhân thân, địa chỉ nhắn tin đến máy điện thoại SAMSUNG số 0939773396 của bị cáo L để mua các con số đề 116; 07; 11; 71; 19; 40; 412; 30; 32; 44; 38; 46; 39; 77 của các đài Bến Tre, Bạc Liêu và Bà Rịa

- Vũng Tàu với tổng số tiền 5.054.500 đồng bị cáo L đồng ý và đã ghi ra tờ phơi số 01 riêng tin nhắn bị cáo L đã xóa.

2. Người phụ nữ không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể nhắn tin từ số thuê bao 01228124274 đến số thuê bao 0939773396 của bị cáo L để mua các con số đề 52; 39; 38; 07; 09; 12; 30; 40; 151; 11 của các đài Bến Tre, Bạc Liêu và Bà Rịa - Vũng Tàu với số tiền là 1.582.000 đồng bị cáo L đồng ý và đã ghi ra tờ phơi số 02.

3. Người nam không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể đến trực tiếp mua số đề 35 của các đài Bến Tre, Bạc Liêu và Bà Rịa - Vũng Tàu với số tiền 136.000 đồng bị cáo L đồng ý và ghi vào tờ phơi số 04.

4. Dì Sáu không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể, nhắn tin đến máy điện thoại SAMSUNG số 0939773396 của bị cáo L để mua các con số đề 32; 68; 30; 23; 10; 25; 36; 02; 72; 23; 16 của các đài Bến Tre, Bạc Liêu và Bà Rịa - Vũng Tàu với tổng số tiền là 832.000 đồng bị cáo L đồng ý và ghi vào tờ phơi số 06, riêng tin nhắn bị cáo L đã xóa.

5. Người phụ nữ không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể đến trực tiếp để mua các con số đề 07; 007; 19; 11 của các đài Bến Tre, Bạc Liêu và Bà Rịa - Vũng Tàu với tổng số tiền 901.000 đồng bị cáo L đồng ý và ghi vào tờ phơi số 06.

6. Người phụ nữ không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể đến trực tiếp để mua các con số đề 18; 23 của các đài Bến Tre và Bà Rịa - Vũng Tàu với tổng số tiền 81.000 đồng bị cáo L đồng ý và ghi vào tờ phơi số 05.

Như vậy, ngày 16/01/2018 bị cáo Nguyễn Thị Thanh L ghi biên số đề của các đài Bến Tre, Bạc Liêu và Bà Rịa - Vũng Tàu bán cho các con bạc với tổng số tiền là 8.586.500 đồng (không tính kết quả thắng thua).

Đối với các tờ phơi còn lại, chỉ ghi các con số, không ghi thời gian cụ thể, không ghi đài xổ số và bị cáo L cũng không nhớ nên không có cơ sở để tiến hành cộng phơi và đối chiếu kết quả thắng thua.

Sau khi ghi số đề bán cho người khác, bị cáo Nguyễn Thị Thanh L sử dụng số điện thoại 01685574348 gửi 01 tin nhắn chuyển phơi cho “Ngan”, số thuê bao 01226817324 với số tiền là 3.200.000 đồng và đọc nhờ ông Lữ Minh C soạn 01 tin nhắn. Sau đó, bị cáo L gửi tin nhắn chuyển phơi đến “Hai Thoa” số thuê bao 0932585050 với số tiền cộng phơi là 1.146.000 đồng.

Bên cạnh đó, ghi nhận nội dung tin nhắn máy điện thoại di động phát hiện nhiều tin nhắn từ điện thoại của bị cáo L có nội dung số đề đã gửi đến “Hai Thoa” số thuê bao 0932585050 tiến hành cộng phơi đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết làm việc xác định như sau:

- Ngày 11 tháng 01 năm 2018, bị cáo L sử dụng số 01685574348 chuyển phơi cho “Hai Thoa” số thuê bao 0932585050 ở đài xổ số kiến thiết Miền Bắc số 44; 86; 59; 19; 35; 79 là 1.127.000 đồng (tiền ghi số 777.000 đồng, tiền trúng thưởng 350.000 đồng); ở đài xổ số Miền Nam các tỉnh An Giang, Tây Ninh và Bình Thuận số 11 với tiền đánh bạc là 750.000 đồng.

- Ngày 12 tháng 01 năm 2018, bị cáo L sử dụng số 01685574348 chuyển phơi cho “Hai Thoa” số thuê bao 0932585050 ở đài xổ số kiến thiết Miền Bắc số 032; 19; 29; 89; 03; 20; bao lô 321; số 19 là 1.375.500 đồng; ở đài xổ sổ Miền Nam các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long và Bình Dương bao lô số 2275; số 11; 20 với tiền đánh bạc là 1.050.000 đồng.

- Ngày 13 tháng 01 năm 2018, bị cáo L sử dụng số 01685574348 chuyển phơi cho “Hai Thoa” số thuê bao 0932585050 ở đài xổ số kiến thiết Miền Bắc số 39; 19; 29 là 716.500 đồng; ở đài xổ số Miền Nam các tỉnh Long An, Bình Phước và thành phố Hồ Chí Minh ở con số 11 với tiền đánh bạc là 750.000đồng. Tổng cộng ngày 13 tháng 01 năm 2018 là 1.466.000 đồng

- Ngày 14 tháng 01 năm 2018, bị cáo L sử dụng số 01685574348 chuyển phơi cho “Hai Thoa” số thuê bao 0932585050 ở đài xổ số kiến thiết Miền Bắc ở các con số 86; 52; 44; 36; 99; 321; 29; 19; 7321 là 649.000 đồng; ở đài xổ số Miền Nam các tỉnh Tiền Giang, Kiên Giang và Đà Lạt ở các con số 11; 07 đá số 30 với tiền đánh bạc là 966.000 đồng.

- Ngày 15 tháng 01 năm 2018, bị cáo L sử dụng số 01685574348 chuyển phơi cho “Hai Thoa” số thuê bao 0932585050 ở đài xổ số kiến thiết Miền Bắc số 29; 71; 03; 11; 29; 62; 23; 32 là 2.789.000 đồng; ở đài xổ số Miền Nam các tỉnh An Giang, Tây Ninh và Bình Thuận số 11; 29; 51 với tiền đánh bạc là 750.000 đồng.

Đối với Lữ Minh C: đã cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh L 01 máy điện thoại di động nhưng việc bị cáo Nguyễn Thị Thanh L sử dụng để nhắn tin chuyển phơi đề thì Lữ Minh C không biết. Ngày 16/01/2018, Lữ Minh C chỉ giúp L soạn tin nhắn số đề với số tiền 1.146.000 đồng còn lại là do tự bị cáo Nguyễn Thị Thanh L chuyển cho người khác, Lữ Minh C không hưởng lợi ích gì từ bị cáo Nguyễn Thị Thanh L. Vì vậy, hành vi của C không cấu thành tội đồng phạm giúp sức cho bị cáo L, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự là có cơ sở.

Đối với số thuê bao 0932585050 lưu tên“Hai Thoa” mà bị cáo Nguyễn Thị Thanh L nhắn tin chuyển phơi với số tiền là 1.146.000 đồng và số thuê bao 01226817324 lưu tên “Ngan” bị cáo Nguyễn Thị Thanh L nhắn tin chuyển phơi với số tiền là 3.200.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Thị Thanh L khai chuyển phơi cho Phạm Thị O và Doàn Thị Thanh N, qua làm việc cả O và N đều không thừa nhận hành vi đánh bạc với bị cáo L, ngoài lời trình bày của bị cáo L thì không còn chứng cứ nào khác chứng minh O và N có tham gia đánh bạc cùng với bị cáo L.

Đối với Lê Văn C vào ngày bắt quả tang bị cáo L (ngày 16/01/2018) thì C có mặt tại nhà của bị cáo L, qua xác minh C chỉ đến đây chơi chứ không có tham gia đánh bạc.

Đối với những người mua số đề còn lại, bị cáo L không rõ họ tên địa chỉ cụ thể nên không thể xác minh, chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 40/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh L phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh L 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành án tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giam trước từ ngày 28 tháng 02 năm 2022 đến ngày 13 tháng 4 năm 2022.

- Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh L phải nộp phạt số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/7/2022, bị cáo Nguyễn Thị Thanh L kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị Thanh L thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung của Bản án sơ thẩm thể hiện, bị cáo bổ sung yêu cầu kháng cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo và tại phiên tòa bị cáo bổ sung thêm tình tiết mới mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo là bị cáo hiện tại có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo đang trực tiếp chăm sóc cha mẹ bị bệnh nặng không thể tự chăm sóc.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Tòa án nhân dân huyện C xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh L 09 tháng tù. Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh L là còn trong hạn luật định, đề nghị Hội đồng xét xử chấp thuận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Về tội danh Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thanh L về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Việc án sơ thẩm xét xử bị cáo là đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, nhất là tội đánh bạc đang gia tăng trên địa bàn tỉnh Trà Vinh hiện nay.

Án sơ thẩm cũng đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo bổ sung tình tiết giảm nhẹ là đang trực tiếp nuôi dưỡng cha mẹ trên 80 tuổi đang bị bệnh không thể tự chăm sóc được có xác nhận của chính quyền địa phương và Ủy ban nhân dân thị trấn C nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh L, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo 3 tháng, xử phạt bị cáo 06 tháng tù.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Thị Thanh L: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh L là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Đối với nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh L, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo cụ thể ngày 16/01/2018 bị cáo đứng ra làm chủ bán số đề các đài Bến Tre, Bạc Liêu và Bà Rịa - Vũng Tàu cho 06 người mua với tổng số tiền là 8.586.500 đồng, lời khai này khớp với lời khai trước đây của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các phơi ghi đề đã thu được, phù hợp với các chứng cứ có liên quan mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được. Như vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố cũng như Bản án sơ thẩm xử bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật, bị cáo thống nhất tội danh trên nên không có kháng cáo về tội danh mà chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, hành vi tụ tập nhiều người khác vào việc đánh bạc là một trong những nguyên nhân làm cho một số người có thói quen lười biếng lao động, sống trông cậy vào những đồng tiền bất chính, còn là nguyên nhân của nghèo đói, phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Khi thực hiện hành vi, bị cáo Nguyễn Thị Thanh L nhận thức rõ hành vi tụ tập đánh bạc ăn thua bằng tiền trái phép là hành vi pháp luật nghiêm cấm, bất cứ ai thực hiện đều phải bị xử lý theo pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh L 09 tháng tù và xử phạt bổ sung 20.000.000 đồng theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Nguyễn Thị Thanh L đã thành khẩn khai báo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có người thân có công với cách mạng. Từ khi phạm tội cho đến nay bị cáo luôn chấp hành đúng các quy định của địa phương, bản thân bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, sự việc xảy ra đến nay đã trên 04 năm, tính nguy hiểm cho xã hội đã giảm đáng kể so với hành vi phạm tội của bị cáo. Hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo đang là lao động chính trong gia đình, trực tiếp chăm sóc cha mẹ mỗi người trên 80 tuổi bị bệnh không thể tự chăm sóc. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối chiếu với quy định của pháp luật về điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 65 của Bộ luật Hình sự không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho gia đình, chính quyền địa phương theo dõi, giáo dục bị cáo cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

Từ những nhận định và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh L. Sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng cho bị cáo hưởng án treo, áp dụng đối với bị cáo một thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm Hội đồng xét xử có cân nhắc xem xét khi nghị án nhưng do hành vi phạm tội của bị cáo đã diễn ra từ năm 2018, tính nguy hiểm cho xã hội đã giảm đáng kể, cha mẹ già bệnh không thể tự chăm sóc, cần có sự nuôi dưỡng của bị cáo và để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đề nghị của Kiểm sát viên. Do tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp tình tiết đặc biệt mới nên việc sửa án cấp sơ thẩm không có lỗi.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đều đúng với quy định pháp luật.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh L được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thị Thanh L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh L.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh L phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Thanh L cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không sửa đổi đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ