- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị A khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị A được ly hôn với anh Phan Cảnh B.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2022/HNGĐ-ST Ngày: 17/8/2022 “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Nhạn
Ông Lương Chí Nguyện
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã R tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 191/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị A sinh năm 1982 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm 7, phường L, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Anh B, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm 7, phường L, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị A trình bày: Chị A và anh B tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/01/2010, tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là phường L), thị xã R, tỉnh Bạc Liêu. Anh chị có 02 con chung: Cháu Phan Huỳnh Yến N, sinh ngày 01/01/2013 và cháu Phan Huỳnh Hồng N1, ngày 17/08/2009 . Trong thời gian chung sống vợ chồng, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh B có người phụ nữ khác bên ngoài và có hành vi đánh đập chị A. Mặc dù được hai bên gia đình hoà giải, hàn gắn nhưng chị và anh B đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Do đó, chị A nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh B không còn hạnh phúc, nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B. Về con chung: Khi ly hôn chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phan Cảnh B dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như vắng mặt tại phiên toà xét xử, nên Toà án không thể ghi nhận ý kiến của anh B.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử những nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên áp dụng Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị A được ly hôn với anh B. Về con chung: Giao 02 cháu Phan Huỳnh Yến N, sinh ngày 01/01/2013 và cháu Phan Huỳnh Hồng N1, ngày 17/08/2009 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục. Anh B không phải chấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung do chị A không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặc ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ yêu cầu của đương sự tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị A và anh B tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã P (nay là phường L), thị xã R, tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 14/01/2010 theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nay chị A khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn anh B và nuôi con chung, đây thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn”, anh B hiện đang cư trú tại Khóm 7, phường Láng Tròn, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị A có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phan Cảnh B đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về hôn nhân: Sau khi kết hôn hợp pháp, chị A và anh B sống với nhau hòa thuận một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn chị A xác định là do anh B có quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài, còn có hành vi đánh đập chị, mặc dù đã được chị và gia đình hai bên can ngăn nhưng anh B vẫn không thay đổi. Do đó, từ năm 2018 chị A và anh B đã sống ly thân cho đến nay. Hiện nay chị A xác định vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, đời sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị A đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh B.
Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án đã hòa giải để chị A và anh B đoàn tụ nhưng chị A cương quyết ly hôn vì nhận thấy không còn tình cảm, cả hai không còn quan tâm nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Còn anh B mặc dù đã được triệu tập hợp lệ để tham gia hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, nên không thể ghi nhận ý kiến của anh B. Mặc khác, hôn nhân phải dựa trên cơ sở tình yêu thương của cả hai vợ chồng, nhưng chị A cương quyết xin ly hôn, giữa chị A và anh B cũng sống ly thân thời gian dài, vì vậy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của anh chị đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.
Về con chung: Chị A và anh B có 02 con chung là cháu Phan Huỳnh Yến N, sinh ngày 01/01/2013 và cháu Phan Huỳnh Hồng N1, ngày 17/08/2009, khi ly hôn chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ biên bản xác minh Trưởng ấp xác định hiện tại cháu N và cháu N1 sống cùng chị A, cả hai cháu được chị A cho đi học đầy đủ và hai cháu phát triễn bình thường. Cũng tại biên bản ghi nhận ý kiến của hai cháu ngày 13/5/2022, cháu N và cháu N1 đều có mong muốn được sống cùng chị A. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu N và cháu N1 đang sống cùng chị A, do đó để tránh làm sáo trộn đời sống và sự phát triển tâm sinh lý của cháu, cũng như mong muốn được sống cùng mẹ của các cháu. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ giao cháu N và cháu N1 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị A xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không có căn cứ xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng chị A phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51 và các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị A được ly hôn với anh Phan Cảnh B.
2. Về con chung:
2.1 Giao con chung là cháu Phan Huỳnh Yến N1, sinh ngày 01/01/2013 và cháu Phan Huỳnh Hồng N, ngày 17/08/2009 cho chị Huỳnh Thị A được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Cháu Nhi và cháu Nhiên hiện đang sống cùng chị A nên được giữ nguyên.
2.2 Anh Phan Cảnh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
2.3 Anh Phan Cảnh B không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị A không yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Huỳnh Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm buộc chị Huỳnh Thị A có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị Huỳnh Thị A đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu số 0004042, ngày 13/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí toàn bộ.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận - Các đương sự; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND cùng cấp; - CCTHADS cùng cấp; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy |