- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Ngọc T và Trần Hoàng G"
- Tòa quyết gì? 1/- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc T;
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 75/2022 /HNGĐ - ST. Ngày 12/8/2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN -TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Nghĩa.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Di và bà Nguyễn Thị Thủy.
Thƣ ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyến - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2022 , tại Tòa án nhân dân huyện Long Điền, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2022/TLST-HNGĐ ngày 23/3/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2022/ QĐST-HNGĐ ngày 11/7/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27/7/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1979. (Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt);
Địa chỉ thường trú: Khu phố Long H, thị trấn L1, huyện L2 tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Bị đơn: Trần Hoàng G, sinh năm 1992. (Vắng mặt);
Địa chỉ thường trú: Khu phố Long H, thị trấn L1, huyện L2 tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại tòa án, bà Phạm Thị Ngọc T có yêu cầu nhƣ sau:
Bà Phạm Thị Ngọc T và ông Trần Hoàng G chung sống từ năm 2019, có đăng ký kết hôn.Trong thời gian chung sống (Tại thôn Long Hiệp, thị trấn Long Điền), giữa bà T và ông G có nhiều lần bất đồng ý kiến và cải vã với nhau, ông G về nhà của mẹ ông G ở, ông G và bà T ly thân từ năm 2021 đến nay
Nay bà T yêu cầu được ly hôn đối với ông G.
- Về con chung: Bà Phạm Thị Ngọc T và ông G không có con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: bà Phạm Thị Ngọc T không có tranh chấp về tài sản chung với ông G.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền phát biểu ý kiến:
- 1 -
Về thủ tục xét xử vụ án: Bà Phạm Thị Ngọc T tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt tại phiên tòa nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Trần Hoàng G không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt hai lần không có lý do, đề nghị TAND huyện Long Điền xét xử vắng mặt bà T và ông G .
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị TAND huyện Long Điền chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền.
Về thủ tục xét xử vụ án: TAND huyện Long Điền đã triệu tập hợp lệ, bà Phạm Thị Ngọc T vắng mặt nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Trần Hoàng G vắng mặt hai lần không có lý do (Tại phiên tòa vào ngày 27/7/2022 và tại phiên tòa hôm nay). Theo quy định tại điều 227 bộ luật tố tụng dân sự, TAND huyện Long Điền xét xử vắng mặt bà T và ông G.
Về nội dung vụ án, xét thấy: Bà Phạm Thị Ngọc T và ông Trần Hoàng G tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2019, có đăng ký kết hôn. Qua lời trình bày của bà Phạm Thị Ngọc T và kết quả xác minh cho thấy: Trong thời gian chung sống, bà T và ông G không có con chung, các đương sự có mâu thuẩn do nhiều lần bất đồng ý kiến, xảy ra cãi vả, ông G và bà T đã ly thân từ năm 2021 đến nay.
Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Phạm Thị Ngọc T và ông Trần Hoàng G là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Ngọc T.
Về con chung: Bà Phạm Thị Ngọc T và ông Trần Hoàng G không có con chung.
Về tài sản chung: bà Phạm Thị Ngọc T và ông Trần Hoàng G không có tranh chấp tài sản chung và nợ chung nên không xét đến.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án :
1/- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc T;
Bà Phạm Thị Ngọc T được ly hôn đối với ông Trần Hoàng G.
2/- Về con chung:
Bà Phạm Thị Ngọc T và ông Trần Hoàng G không có con chung.
3/- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Ngọc T và ông Trần Hoàng G không có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung.
- 2 -
4/- Về án phí:
- Bà Phạm Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008755 ngày 21/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền; Bà Phạm Thị Ngọc T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Trần Hoàng G không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5/- Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| - 3 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Nghĩa |