- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về thừa kế tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về thừa kế tài sản của ông Nguyễn Văn Th đối với ông Nguyễn Thành Ch.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2022/DS-ST Ngày 24 tháng 8 năm 2022 Về việc“Tranh chấp thừa kế tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà PHẠM NGỌC GIÀU
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà ĐỖ THỊ MỸ HẠNH
2/ Bà DƢƠNG THỊ TƢ
- Thư ký phiên tòa: Bà LÊ THỊ MỸ HÒA - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ BÍCH DU - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2020/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2020 về việc“Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 76/2022/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2022/QĐST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2022 giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1973 - (Có mặt).
Địa chỉ nơi ĐKNKTT: Ấp Tân Đông II, xã Tân L, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh
Tạm trú tại: Số 01, tổ 15, ấp Phƣớc Lợi 1, xã Suối Đ, huyện Dƣơng Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số 64, Tổ 2, ấp Phƣớc H, xã Suối Đ, huyện Dƣơng Minh Châu, tỉnh Tây Ninh - (Có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành Ch, sinh năm 1963 - (Có mặt).
Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1962 - (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số 67/3C, khu phố Long M, phƣờng Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sƣ Nguyễn Văn Đ - Công ty Luật TNHH MTV Thắng Nguyễn - Thuộc Đoàn luật sƣ Thành phố Hồ Chí Minh - (Có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1958 - (Có mặt).
Địa chỉ: Số 1, tổ 2, ấp Suối M, xã Thái B, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1961 - (Có mặt).
Địa chỉ: Số 283, tổ 23, ấp Hội T, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1965 - (Có mặt).
Địa chỉ: Số 28, tổ 8, khu phố Hiệp L, phƣờng Hiệp Nh, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1955 - (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 207, tổ 6, khu phố An Th, phƣờng An T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1975 - (Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 207, tổ 6, khu phố An Th, phƣờng An T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Anh Nguyễn Thành N, sinh năm 1977 - (Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 207, tổ 6, khu phố An Th, phƣờng An T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Anh Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 1980 - (Có mặt).
Địa chỉ: Số 207, tổ 6, khu phố An Th, phƣờng An T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Anh Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 1987 - (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 207, tổ 6, khu phố An Th, phƣờng An T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Chị Nguyễn Thị Kim Tr, sinh năm 1992 - (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 207, tổ 6, khu phố An Th, phƣờng An Tịnh, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Bà Võ Thị Bé B, sinh năm 1954 - (Có mặt).
Địa chỉ: Số 8A, khu phố Sân C, phƣờng Long Thành B, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Bà Đặng Thị Tuyết Nh, sinh năm 1959 - (Có mặt).
Địa chỉ: Số 122, tổ 6, ấp Thạnh A, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980 - (Có mặt).
Địa chỉ: Tổ 6, ấp Bình L, xã Chà L, huyện Dƣơng Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1984 - (Có mặt).
Địa chỉ: Số 8A, khu phố Sân C, phƣờng Long Thành B, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Chị Nguyễn Thị Bé M, sinh năm 1990 - (Có mặt).
Địa chỉ: Số 122, tổ 6, ấp Thạnh A, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1992 - (Có mặt).
Địa chỉ: Số 122, tổ 6, ấp Thạnh A, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Ông Lâm Văn Tr, sinh năm 1968 - (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ 11, ấp Tân Đông II, xã Tân L, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Chị Lâm Thị Mỹ X, sinh năm 1987 - (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 85/5D, ấp 6, xã Xuân Thới S, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
- Chị Lâm Thị Bích Ph, sinh năm 1989 - (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Thạnh Tr, xã Thạnh T, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Anh Lâm Tuấn V, sinh năm 1990 - (Có mặt).
Địa chỉ: Số 77/11, ấp Tân Đông 2, xã Tân L, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Anh Lâm Khánh Ph, sinh năm 1994 - (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 77/11, ấp Tân Đông 2, xã Tân L, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 01 năm 2020 của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th và trong quá trình thu thập chứng cứ, tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Trần Văn Hg trình bày:
Cha ông Th là cụ Nguyễn Văn S, sinh năm 1935, chết năm 1994 và mẹ ông Thành là cụ Huỳnh Thị Ngọc Ng, sinh năm 1937, chết năm 1992. Cha mẹ ông Thành sống chung có 08 ngƣời con gồm: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1954, chết năm 2009, có vợ tên Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1955, ông L và bà A có 05 ngƣời con là Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thanh Ph, Nguyễn Thanh Ph và Nguyễn Thị Kim Tr; Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1955, chết năm 2012, có vợ trƣớc tên Võ Thị Bé B, sinh năm 1954, ông L và bà B có 02 con tên là Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị Ngọc H. Ông L sống với vợ sau tên Đặng Thị Tuyết Nh, sinh năm 1957, ông L và bà Nh có 02 ngƣời con tên Nguyễn Văn Ph và Nguyễn Thị Bé M; Bà Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1958; Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1961; Ông Nguyễn Thành Ch, sinh năm 1963; Bà Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1965; Bà Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1968, đã chết năm 2006, có chồng là ông Lâm Văn T, sinh năm 1968, bà Á và ông Tr có 04 ngƣời con là Lâm Thị Mỹ X, Lâm Thị Bích Ph, Lâm Tuấn V, Lâm Khánh Ph; Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1973. Khi cha mẹ ông Th mất có để lại phần đất diện tích 159m2, thửa 123, tờ bản đồ 12, tọa lạc tại khu phố Long M, phƣờng Long Thành B, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Lúc cha mẹ ông Th còn sống thì chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi cha mẹ mất thì ông Ch tự làm kê khai đăng ký để đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện tại ông Ch đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lúc cha mẹ còn sống thì cha mẹ chƣa chia tài sản cho ai cả và khi cha mẹ mất không để lại di chúc. Hiện tại vợ chồng ông Ch bà Ng đang quản lý sử dụng phần đất trên. Lúc cha mẹ còn sống thì trên đất có căn nhà tạm đến khi cha mẹ mất thì ông Ch có đổ thêm đất và sửa lại nhà thờ để ở cho đến nay. Ngoài phần đất diện tích 159m2 tọa lạc tại khu phố Long Mỹ, phƣờng Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh ra thì cha mẹ ông Thành không còn để lại tài sản nào khác.
Nay ra Tòa ông H đại diện cho ông Th yêu cầu bị đơn ông Ch và bà Ng phải chia di sản thừa kế do cha mẹ chết để lại theo quy định của pháp luật. Ông Th chỉ yêu cầu chia phần đất không yêu cầu chia căn nhà tạm cất trên phần đất.
* Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn Th trình bày: Ông Th thống nhất lời trình bày của ngƣời đại diện theo ủy quyền là ông Trần Văn H, không bổ sung gì thêm.
* Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Thành Ch trình bày:
Ông Ch thống nhất mối quan hệ huyết thống về cha mẹ và anh chị em theo lời trình bày của bên nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th. Nguồn gốc phần đất diện tích 159m2, thửa đất số 123, tờ bản số 12, tọa lạc tại khu phố Long Mỹ, phƣờng Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh là do ông bà ngoại chết để lại cho cha mẹ ông là cụ Nguyễn Văn S và cụ Huỳnh Thị Ngọc Ng, sau đó cha mẹ mất thì để lại cho vợ chồng ông quản lý sử dụng đến nay. Lúc cha mẹ còn sống thì cha mẹ chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi cha mẹ mất thì tất cả các anh chị em xuống phƣờng Long Thành Bắc làm thủ tục ủy quyền cho ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Ch là ngƣời sống chung với cha mẹ trên đất này từ lúc còn nhỏ cho đến khi cha mẹ mất, khi cha mẹ bệnh là do một mình ông lo liệu, các anh, chị, em không ai quan tâm lo lắng cho cha mẹ cả, nay thấy đất có giá thì về yêu cầu chia. Khi cha mẹ còn sống thì trên đất có căn nhà tạm, nền đất rất sâu, đến khi cha mẹ mất thì nhà bị sập, bàn thờ phải để ngoài mƣa, ông có kêu anh chị em về nếu ai ở thì phải sửa lại nhà nhƣng không ai chịu về ở nên ông phải bỏ tiền ra đổ khoảng 15-16 xe đất cất lại nhà thờ để ở và thờ cúng cha mẹ nhƣ hiện nay. Ngoài phần đất diện tích 159m2 tọa lạc tại khu phố Long Mỹ, phƣờng Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành ra thì cha mẹ ông Châu không còn để lại tài sản nào khác. Khi cha mẹ chết không có để lại di chúc.
Nay ra Tòa ông Ch đồng ý chia di sản thừa kế do cha mẹ chết để lại cho ông Thành và các anh chị em theo quy định của pháp luật, nhƣng khi chia phải xem xét phần công sức đóng góp của vợ chồng ông và phần hƣơng quả để thờ cúng cha mẹ.
Ngày 04/3/2021 ông Ch có bảo lãnh cho con trai là anh Nguyễn Thanh T vay Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Hòa Thành số tiền 200.000.000 đồng. Tài sản thế chấp cho Ngân hàng là 01 giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01622 cấp ngày 20/12/2012, diện tích 159m2 thửa số 123, tờ bản đồ số 12 do ông Nguyễn Thành Ch đứng tên. Hiện ông Ch và anh T đã trả nợ xong cho Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Hòa Thành. Hiện tại ông Ch đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Theo bản tự khai và biên bản ghi lời khai ngày 20/02/2020 bị đơn bà Nguyễn Thị Ng trình bày:
Bà Ng thừa nhận phần đất diện tích 159m2 tọa lạc tại khu phố Long Mỹ, phƣờng Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành, hiện vợ chồng bà đang quản lý sử dụng là tài sản do cha mẹ chồng là cụ Nguyễn Văn S và cụ Huỳnh Thị Ngọc Ng chết để lại không phải là tài sản của vợ chồng tự tạo nên bà Ng không có ý kiến gì về phần tài sản trên mà để cho ông Ch tự quyết định. Căn nhà tạm trên đất là do vợ chồng bà tự cất để ở, bà Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết về căn nhà trên đất.
* Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc Y trình bày:
Bà Y thống nhất lời trình bày của nguyên đơn ông Th về mối quan hệ huyết thống và di sản thừa kế do cha mẹ chết để lại là phần đất diện tích 159m2 tọa lạc tại khu phố Long Mỹ, phƣờng Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, hiện tại vợ chồng ông Ch bà Ng đang quản lý sử dụng, ngoài ra không còn tài sản nào khác. Nay ra Tòa bà Y yêu cầu đƣợc hƣởng di sản thừa kế do cha mẹ chết để lại. Bà Y yêu cầu chia phần đất, không yêu cầu chia căn nhà tạm cất trên đất.
* Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:
Bà T thống nhất lời trình bày của nguyên đơn ông Th về mối quan hệ huyết thống và di sản thừa kế do cha mẹ chết để lại phần đất diện tích 159m2 tọa lạc tại khu phố Long Mỹ, phƣờng Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Nay ra Tòa bà T yêu cầu đƣợc hƣởng di sản thừa kế do cha mẹ chết để lại. Bà T yêu cầu chia phần đất, không yêu cầu chia căn nhà tạm cất trên đất.
* Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết S trình bày:
Bà S thống nhất lời trình bày của nguyên đơn ông Th về mối quan hệ huyết thống và di dản thừa kế do cha mẹ chết để lại là phần đất diện tích 159m2 tọa lạc tại khu phố Long Mỹ, phƣờng Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, hiện tại vợ chồng ông Ch, bà Ng đang quản lý sử dụng. Nay ra Tòa bà S yêu cầu đƣợc hƣởng di sản thừa kế do cha mẹ chết để lại, bà S yêu cầu chia phần đất, không yêu cầu chia căn nhà tạm cất trên đất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim A trình bày:
Bà An là vợ của ông Nguyễn Thanh L (đã chết). Bà A và ông L có 05 ngƣời con gồm: Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thành N Nguyễn Thanh Ph, Nguyễn Thanh Ph và Nguyễn Thị Kim Tr. Phần di sản thừa kế của ông L đƣợc hƣởng bà A yêu cầu đƣợc chia đều cho các con, bà A từ chối nhận phần di sản ông L đƣợc hƣởng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh H trình bày:
Cha anh là ông Nguyễn Thanh L (đã chết) và mẹ là bà Nguyễn Thị Kim A, cha mẹ anh có 05 ngƣời con gồm anh là Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thanh Ph, Nguyễn Thanh Ph và Nguyễn Thị Kim Tr. Anh H yêu cầu đƣợc hƣởng phần di sản thừa kế của ông L đƣợc hƣởng thừa kế từ ông bà nội là cụ S và cụ Ng chết để lại.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thành N trình bày:
Cha anh là ông Nguyễn Thanh L (đã chết) và mẹ là bà Nguyễn Thị Kim A, cha mẹ anh có 05 ngƣời con gồm Nguyễn Thanh H, anh là Nguyễn Thành N, Nguyễn Thanh Ph, Nguyễn Thanh Ph và Nguyễn Thị Kim Tr. Anh N yêu cầu đƣợc hƣởng phần di sản thừa kế của ông L đƣợc hƣởng thừa kế từ ông bà nội là cụ S và cụ Ng chết để lại.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh Ph trình bày:
Cha anh là ông Nguyễn Thanh L (đã chết) và mẹ là bà Nguyễn Thị Kim A, cha mẹ anh có 05 ngƣời con gồm Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thanh Ph, anh là Nguyễn Thanh Ph và Nguyễn Thị Kim Tr. Anh Ph yêu cầu đƣợc hƣởng phần di sản thừa kế của ông L đƣợc hƣởng thừa kế từ ông bà nội là cụ S và cụ Ng chết để lại.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Kim Tr trình bày:
Cha chị là ông Nguyễn Thanh L (đã chết) và mẹ là bà Nguyễn Thị Kim A, cha mẹ chị có 05 ngƣời con gồm Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thanh Ph, Nguyễn Thanh Ph và chị là Nguyễn Thị Kim Tr. Chị Tr yêu cầu đƣợc hƣởng phần di sản thừa kế của ông L đƣợc hƣởng thừa kế từ cụ S và cụ Ng chết để lại.
* Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh Ph trình bày:
Cha anh là ông Nguyễn Thanh L (đã chết) và mẹ là bà Nguyễn Thị Kim A, anh Ph thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn ông Th về mối quan hệ huyết thống và di sản thừa kế do ông bà nội là cụ S và cụ Ng chết để lại. Nay ra Toà anh Ph yêu cầu đƣợc hƣởng phần di sản thừa kế của ông L đƣợc hƣởng. Anh Ph yêu cầu chia đều phần di sản thừa kế ông L đƣợc hƣởng cho các con ông L gồm Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thanh Ph, Nguyễn Thanh Ph và Nguyễn Thị KimTr.
* Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Bé B trình bày:
Bà Ba là vợ trƣớc của ông Nguyễn Thành L, có đăng ký kết hôn, bà B và ông Lên sống chung có 02 ngƣời con là Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị Ngọc H. Ông L có vợ sau tên là Đặng Thị Tuyết Nh, ông L và bà Nh sống chung có 02 con là Nguyễn Thị Bé M và Nguyễn Văn Ph. Nay ra Toà bà B yêu cầu chia đều phần di sản thừa kế ông L đƣợc hƣởng cho tất cả các con ông L gồm Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Ngọc H, Nguyễn Thị Bé M và Nguyễn Văn Ph. Bà B từ chối nhận phần di sản thừa kế ông L đƣợc hƣởng.
* Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Tuyết Nh trình bày:
Bà Nh là vợ sau của ông Nguyễn Thành L, không đăng ký kết hôn, bà Nh và ông L sống chung có 02 ngƣời con là Nguyễn Thị Bé M và Nguyễn Văn Ph. Bà Nh từ chối nhận phần di sản thừa kế của ông L đƣợc hƣởng, nay ra Tòa bà Nh yêu cầu chia đều phần thừa kế của ông L đƣợc hƣởng cho các con ông L gồm Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Ngọc H, Nguyễn Thị Bé M và Nguyễn Văn Ph.
* Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Ltrình bày:
Cha chị Liên là ông Nguyễn Thành L (đã chết) và mẹ là bà Võ Thị Bé B. Nay ra Tòa chị L yêu cầu đƣợc chia đều phần di sản thừa kế ông Lên đƣợc hƣởng cho các con ông L gồm chị là Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Ngọc H, Nguyễn Thị Bé M và Nguyễn Văn Ph.
* Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:
Cha chị Hlà ông Nguyễn Thành L (đã chết) và mẹ là bà Võ Thị Bé B. Nay ra Tòa chị H yêu cầu đƣợc chia đều phần di sản thừa kế ông L đƣợc hƣởng cho các con ông L gồm Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Ngọc H, Nguyễn Thị Bé M và Nguyễn Văn Ph.
* Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Bé M trình bày:
Chị M là con của ông Nguyễn Thành L (đã chết) và mẹ là bà Đặng Thị Tuyết Nh. Nay ra Tòa chị M yêu cầu đƣợc hƣởng phần di sản thừa kế của ông bà nội chết để lại cho ba chị là ông Nguyễn Thành L Chị M yêu cầu chia đều phần di sản thừa kế ông Lên đƣợc hƣởng cho các con gồm chị là Nguyễn Thị Bé M, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Ngọc H và Nguyễn Văn Ph.
* Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Ph trình bày:
Anh Ph là con của ông Nguyễn Thành L (đã chết) và mẹ là bà Đặng Thị Tuyết Nh. Nay ra Tòa anh Ph yêu cầu đƣợc hƣởng phần di sản thừa kế của ông bà nội chết để lại cho ba anh là ông Nguyễn Thành L. Anh Ph yêu cầu chia đều phần di sản thừa kế ông L đƣợc hƣởng cho các con gồm anh là Nguyễn Văn Ph, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Ngọc H và Nguyễn Thị Bé M.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Văn Tr trình bày:
Ông Tr là chồng của bà Nguyễn Thị Ngọc Á (đã chết). Ông Tr và bà Á có 04 ngƣời con gồm: Lâm Thị Mỹ X, Lâm Thị Bích Ph, Lâm Tuấn V và Lâm Khánh Ph. Phần di sản thừa kế của bà Á đƣợc hƣởng ông Tr yêu cầu đƣợc chia đều cho các con, ông Tr từ chối nhận phần di sản thừa kế của bà Á đƣợc hƣởng. Ông Tr xin rút lại yêu cầu về việc cho tài sản đối với ông Nguyễn Văn Th theo văn bản ngày 03/9/2019.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lâm Thị Mỹ X trình bày:
Cha chị Xuân là ông Lâm Văn Tr và mẹ là bà Nguyễn Thị Ngọc Á (đã chết). Chị Xuân yêu cầu đƣợc chia đều phần di sản thừa kế bà Á đƣợc hƣởng cho các con bà Ánh gồm: Lâm Thị Mỹ X, Lâm Thị Bích Ph, Lâm Tuấn V và Lâm Khánh Ph.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lâm Thị Bích Ph trình bày:
Cha chị Phƣợng là ông Lâm Văn Tr và mẹ là bà Nguyễn Thị Ngọc Á (đã chết). Chị Phƣợng yêu cầu đƣợc chia đều phần di sản thừa kế bà Ánh đƣợc hƣởng cho các con bà Á gồm: Lâm Thị Mỹ X, Lâm Thị Bích Ph, Lâm Tuấn V và Lâm Khánh Ph.
* Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lâm Tuấn V trình bày:
Anh V là con của bà Nguyễn Thị Ngọc Á (đã chết), anh V thống nhất với lời trình bày của ông Th về mối quan hệ huyết thống. Anh V yêu cầu đƣợc hƣởng phần di sản thừa kế của ông bà ngoại chết để lại cho mẹ anh là bà Á, anh V yêu cầu chia đều phần di sản thừa kế bà Á đƣợc hƣởng cho các con gồm Lâm Thị Mỹ X, Lâm Tuấn V, Lâm Thị Bích Ph và Lâm Khánh Ph. Anh V xin rút lại yêu cầu về việc cho tài sản đối với ông Nguyễn Văn Th theo văn bản ngày 03/9/2019.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lâm Khánh Ph trình bày:
Cha anh Ph là ông Lâm Văn Tr và mẹ là bà Nguyễn Thị Ngọc Á (đã chết). Anh Phụng yêu cầu đƣợc chia đều phần di sản thừa kế bà Á đƣợc hƣởng cho các con bà Á gồm: Lâm Thị Mỹ X, Lâm Thị Bích Ph, Lâm Tuấn V và Lâm Khánh Ph.
* Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Luật sư Nguyễn Văn Đ trình bày:
Phần di sản thừa kế do cụ Nguyễn Văn S và cụ Huỳnh Thị Ngọc Ng chết để lại có diện tích 159m2, thửa đất số 123, tờ bản số 12, tọa lạc tại khu phố Long Mỹ, phƣờng Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Hiện ông Nguyễn Thành Ch đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ S và cụ Ng chết không để lại di chúc. Quá trình giải quyết vụ án ông Ch đã thừa nhận và chấp nhận chia thừa kế tài sản theo pháp luật quy định. Tuy nhiên, do ông Ch và bà Ng đang quản lý di sản thừa kế, có công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo trong việc duy trì, phát triển khối di sản, công sức chăm sóc, ma chay, trách nhiệm giỗ tết cho ngƣời chết. Trong quá trình sử dụng đất, ông Ch đã san lấp, đổ đất nền nhà làm tăng thêm giá trị đất. Do vậy, cần phải tính công sức bảo quản di sản thừa kế cho ông Ch và bà Ng. Mặc khác, khi chia thừa kế thì cần phải trích ra một phần đất để làm nhà thờ hƣơng quả, phần còn lại thì chia thừa kế theo pháp luật, chia bằng giá trị. Luật sƣ đề nghị trích ra 01 phần đất ngang 04 mét x dài 16,5 mét dùng làm nhà thờ hƣơng quả, giao cho ông Ch tiếp tục quản lý, thờ cúng. Phần đất còn lại ngang 6 mét x 15,7 mét đề nghị chia làm 08 phần cho hàng thừa kế thứ nhất, thừa kế thế vị đƣợc hƣởng. Ngoài ra, đề nghị chia thêm cho ông Ch và bà Ng mỗi ngƣời đƣợc hƣởng thêm một phần do có công gìn giữ quản lý di sản thừa kế.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của ngƣời tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Có vi phạm về thời hạn xét xử.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 649, 650, 651 của Bộ luật dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Toà án:
Chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần đất diện tích 159m2, thửa 123, tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại khu phố Long Mỹ, phƣờng Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh của nguyên đơn. Ông Nguyễn Văn Th, ông Nguyễn Thành Ch, bà Nguyễn Thị Ngọc Y, bà Nguyễn Thị Ngọc T, bà Nguyễn Thị Ngọc S, các con ông Nguyễn Thanh L gồm Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Ph, Nguyễn Thanh Ph, Nguyễn Thị Kim Tr, các con của ông Nguyễn Thành L gồm Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Ngọc H, Nguyễn Thị Bé M, Nguyễn Văn Ph, các con của bà Nguyễn Thị Ngọc Á gồm Lâm Thị Mỹ X, Lâm Thị Bích Ph, Lâm Tuấn V, Lâm Khánh Ph đƣợc hƣởng phần thừa kế do cụ S và cụ Ng chết để lại. Ông Ch đƣợc hƣởng phần nhiều hơn do có công giữ gìn, quản lý, làm tăng giá trị di sản thừa kế.
Các đƣơng sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Ng và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Nguyễn Thị Kim A, anh Nguyễn Thanh H, anh Nguyễn Thanh Ph, anh Nguyễn Thành N, chị Nguyễn Thị Kim Tr, ông Lâm Văn Tr, chị Lâm Thị Mỹ X, chị Lâm Thị Bích Ph và anh Lâm Khánh Ph vắng mặt nhƣng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đƣơng sự trên theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th khởi kiện ông Nguyễn Thành Ch và bà Nguyễn Thị Ng về phần đất do cụ S và cụ Ng chết để lại diện tích 159 m2, thửa đất số 123, tờ bản số 12, tọa lạc tại khu phố Long Mỹ, phƣờng Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh nên xác định đây là quan hệ “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo quy định tại Điều 609 của Bộ luật dân sự.
Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Nguyễn Văn S, sinh năm 1935, chết năm 1994, cụ Huỳnh Thị Ngọc Ng, sinh năm 1937, chết năm 1992 nên thời hiệu khởi kiện đối với phần di sản thừa kế của cụ S và cụ Ng chết để lại vẫn còn theo quy định tại Điều 623 của Bộ luật dân sự.
Về diện và hàng thừa kế: Theo quy định của pháp luật thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ S và cụ Ng gồm 08 ngƣời con là Nguyễn Thanh L, Nguyễn Thành L, Nguyễn Thị Ngọc Á, Nguyễn Thị Ngọc Y, Nguyễn Thị Ngọc T, Nguyễn Thành Châu, Nguyễn Thị Ngọc S và Nguyễn Văn Th. Do ông Nguyễn Thanh L (chết), nên vợ và các con ông L gồm bà Nguyễn Thị Kim A, anh Nguyễn Thanh H, anh Nguyễn Thanh Ph, anh Nguyễn Thanh Ph, Nguyễn Thành N, chị Nguyễn Thị Kim Tr là ngƣời thừa kế của ông L. Ông Nguyễn Thành L (chết), nên vợ các con ông L gồm bà Võ Thị Bé B, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị Ngọc H, chị Nguyễn Thị Bé M, anh Nguyễn Văn Philà ngƣời thừa kế của ông L. Bà Nguyễn Thị Ngọc Á (chết) nên chồng và các con bà Ánh gồm ông Lâm Văn Tr, chị Lâm Thị Mỹ X, chị Lâm Thị Bích Ph, anh Lâm Tuấn V, anh Lâm Khánh Ph là ngƣời thừa kế của bà Á. Ngoài ra, cụ S và cụ Ng không có vợ, chồng, con chung, con nuôi hay con riêng nào khác.
Về di sản thừa kế: Tài sản của cụ S và cụ Ng chết để lại là phần đất có diện tích 159m2, thửa đất số 123, tờ bản số 12, tọa lạc tại khu phố Long Mỹ, phƣờng Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCN: CS0378 do Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Tây Ninh cấp ngày 06.9.2016 cho ông Nguyễn Thành Ch đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thấy rằng: Phần di sản thừa kế cụ S và cụ Ng chết để lại là phần đất diện tích đất 159m2 và 01 căn nhà tạm trên đất tọa lạc tại khu phố Long Mỹ, phƣờng Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, các thừa kế đều thừa nhận và thống nhất. Do cụ S và cụ Ng chết không để lại di chúc nên di sản của hai cụ để lại đƣợc chia theo quy định pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Toà bị đơn ông Nguyễn Thành Ch đã thừa nhận và đồng ý chia thừa kế cho các anh chị em theo quy định pháp luật. Xét thấy từ khi cha mẹ mất, ông Ch là ngƣời quản lý di sản, có công giữ gìn, cải tạo di sản nhƣ trong quá trình sử dụng đất ông Ch đã san lấp, đổ đất nền nhà làm tăng thêm giá trị đất nên cần phải tính công sức bảo quản di sản thừa kế cho ông Ch. Do vậy, phần đất diện tích 159 m2 là tài sản của cụ Nguyễn Văn S và cụ Huỳnh Thị Ngọc Ng chết để lại sẽ đƣợc chia làm 09 phần bằng nhau và chia cho 08 ngƣời con gồm Nguyễn Thanh L, Nguyễn Thành L, Nguyễn Thị Ngọc Á, Nguyễn Thị Ngọc Y, Nguyễn Thị Ngọc T, Nguyễn Thành Ch, Nguyễn Thị Ngọc S, Nguyễn Văn Th mỗi ngƣời đƣợc hƣởng 01 phần. Ngoài ra ông Ch còn đƣợc hƣởng thêm 01 phần do có công sức gìn giữ quản lý di sản thừa kế.
Việc Luật sƣ đề nghị trích 01 phần đất diện tích ngang 4m x dài 16,5m để lại thờ cúng, giao cho ông Ch quản lý thờ cúng và một phần công sức gìn giữ quản lý di sản cho ông Ch nhƣng tại phiên toà nguyên đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đồng ý nên yêu cầu trích phần di sản thờ cúng của luật sƣ là không có cơ sở chấp nhận mà có thể xem xét chấp nhận 01 phần công sức gìn giữ quản lý di sản thừa kế của ông Nguyễn Thành Ch là phù hợp.
Theo biên bản định giá ngày 09/7/2020 của Hội đồng định giá thị xã Hòa Thành.
Phần đất diện tích 159 m2 tọa lạc khu phố Long Mỹ, phƣờng Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, do ông Nguyễn Thành Ch đứng tên có giá là 170.000.000 đồng/mét ngang x 10 mét ngang = 1.700.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm triệu đồng).
Trên phần đất có căn nhà kết cấu nhà tạm do vợ chồng ông Ch tự xây để ở có diện tích 61.2m2 (ngang trƣớc 5.2 mét, ngang sau 5 mét x dài 12 mét) x 821.000 đồng/m2 x 50% giá trị sử dụng còn lại là 20.098.000 đồng (Hai mƣơi triệu không trăm chín mƣơi tám nghìn đồng). Phần nhà tạm thứ 02 có diện tích 73.83m2 (ngang trƣớc 6 mét, ngang sau 4,7 mét x dài 13.5 mét) x 821.000 đồng/m2 x 50% giá trị sử dụng còn lại là 30.307.215 đồng (Ba mƣơi triệu ba trăm lẻ bảy nghìn hai trăm mƣời lăm đồng).
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tất cả các đƣơng sự đều thống nhất với giá đất đã định là 170.000.000 đồng/1 mét ngang theo biên bản định giá ngày 09/7/2020, không có ai yêu cầu định giá lại.
Vậy diện tích đất mỗi kỷ phần thừa kế đƣợc hƣởng 159 m2 : 9 phần = 17,66m2. Do diện tích đất chia cho mỗi ngƣời không đủ để tách thửa nên cần chia giá trị bằng tiền cho các ngƣời đƣợc hƣởng thừa kế. Cụ thể: 1.700.000.000 đồng : 09 phần = 188.888.889 đồng. Mỗi kỷ phần thừa kế đƣợc hƣởng số tiền là 188.888.889 đồng (làm tròn thành 188.889.000 đồng).
Ông Nguyễn Văn Th đƣợc hƣởng 188.889.000 đồng, bà Nguyễn Thị Ngọc Y đƣợc hƣởng 188.889.000 đồng, bà Nguyễn Thị Ngọc T đƣợc hƣởng 188.889.000 đồng, bà Nguyễn Thị Ngọc S đƣợc hƣởng 188.889.000 đồng. Ông Nguyễn Thành Ch đƣợc hƣởng 377.778.000 đồng (Ba trăm bảy mƣơi bảy triệu bảy trăm bảy mƣơi tám nghìn đồng).
Ông Nguyễn Thanh L (chết năm 2009), bà Nguyễn Thị Kim A là vợ ông L từ chối nhận di sản thừa kế. Vì vậy, phần thừa kế ông L đƣợc hƣởng sẽ chia đều cho các con ông L gồm Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thanh Ph, Nguyễn Thanh Ph, Nguyễn Thành N và Nguyễn Thị Kim Tr, mỗi ngƣời đƣợc hƣởng là 37.778.000 đồng (Ba mƣơi bảy triệu bảy trăm bảy mƣơi tám nghìn đồng).
Ông Nguyễn Thành L (chết năm 2012), bà Võ Thị Bé B là vợ hợp pháp của ông L từ chối nhận phần di sản thừa kế nên phần thừa kế ông L đƣợc hƣởng sẽ chia đều cho các con ông L là Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Ngọc H, Nguyễn Thị Bé M và Nguyễn Văn Ph, mỗi ngƣời đƣợc hƣởng là 47.222.000 đồng (Bốn mƣơi bảy triệu hai trăm hai mƣơi hai nghìn đồng).
Bà Nguyễn Thị Ngọc Á (chết năm 2006), chồng là ông Lâm Văn Tr từ chối nhận di sản thừa kế nên phần thừa kế bà Á đƣợc hƣởng sẽ chia cho các con bà Á là Lâm Thị Mỹ X, Lâm Thị Bích Ph, Lâm Khánh Ph và Lâm Tuấn V, mỗi ngƣời đƣợc hƣởng là 47.222.000 đồng (Bốn mƣơi bảy triệu hai trăm hai mƣơi hai nghìn đồng).
Các đƣơng sự chỉ yêu cầu chia đất, không yêu cầu chia tài sản trên đất, tất cả đều thống nhất giao căn nhà tạm trên đất cho ông Ch sở hữu, sử dụng.
Bà Nguyễn Thị Ng (vợ ông Ch) không yêu cầu Toà án giải quyết căn nhà tạm do vợ chồng bà cất trên đất.
Ông Ch là ngƣời đang quản lý sử dụng phần đất trên nên giao cho ông Ch tiếp tục quản lý sử dụng. Ông Ch có nghĩa vụ giao lại giá trị bằng tiền cho các thừa kế là phù hợp.
Về chi phí đo đạc, định giá và án phí:
Ông Nguyễn Văn Th tự nguyện chịu số tiền chi phí đo đạc định giá là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Ghi nhận ông Th đã nộp và chi phí xong.
Ông Th, ông Ch bà S, anh H, anh N, anh Ph, anh Ph, chị Tr, chị L, chị H, chị Mi, anh Ph, chị X, chị Ph, anh Ph và anh V phải chịu án phí tƣơng ứng với phần tài sản đƣợc hƣởng theo quy định của pháp luật.
Bà Y và bà T đƣợc miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 609, 618, 623, 649, 650, 652, 660 của Bộ luật dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 2 Luật ngƣời cao tuổi năm 2009; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về thừa kế tài sản của ông Nguyễn Văn Th đối với ông Nguyễn Thành Ch.
2. Ông Nguyễn Thành Ch đƣợc quyền sở hữu, sử dụng phần đất diện tích là 159m2 tọa lạc khu phố Long M, phƣờng Long Thành B, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCN: CS0378 do Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Tây Ninh cấp ngày 06.9.2016 cho ông Nguyễn Thành Châu đứng tên, phần đất có tứ cận nhƣ sau:
- Đông giáp thửa 121 dài 9,75 m
- Tây giáp lộ 10 mét dài 10 m
- Nam giáp thửa 122 dài 16,5 m
- Bắc giáp đƣờng hiện trạng dài 15,7 m.
Tổng giá trị phần đất là 1.700.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm triệu đồng).
Trên phần đất có căn nhà nhà tạm diện tích 61.2m2 (ngang trƣớc 5.2m, ngang sau 5m x dài 12m) và phần nhà tạm diện tích 73.83m2 (ngang trƣớc 6m; ngang sau 4,7m x dài 13.5m).
3. Buộc ông Nguyễn Thành Ch có nghĩa vụ giao lại cho ông Nguyễn Văn Th số tiền 188.889.000 đồng (Một trăm tám mƣơi tám triệu tám trăm tám mƣơi chín nghìn đồng), bà Nguyễn Thị Ngọc Y số tiền 188.889.000 đồng (Một trăm tám mƣơi tám triệu tám trăm tám mƣơi chín nghìn đồng), bà Nguyễn Thị Ngọc T số tiền 188.889.000 đồng (Một trăm tám mƣơi tám triệu tám trăm tám mƣơi chín nghìn đồng), bà Nguyễn Thị Ngọc S số tiền 188.889.000 đồng (Một trăm tám mƣơi tám triệu tám trăm tám mƣơi chín nghìn đồng), anh Nguyễn Thanh Ph số tiền 37.778.000 đồng (Ba mƣơi bảy triệu bảy trăm bảy mƣơi tám nghìn đồng), anh Nguyễn Thanh H số tiền 37.778.000 đồng (Ba mƣơi bảy triệu bảy trăm bảy mƣơi tám nghìn đồng), chị Nguyễn Thị Kim Tr số tiền 37.778.000 đồng (Ba mƣơi bảy triệu bảy trăm bảy mƣơi tám nghìn đồng), anh Nguyễn Thành N số tiền 37.778.000 đồng (Ba mƣơi bảy triệu bảy trăm bảy mƣơi tám nghìn đồng), anh Nguyễn Thanh Phƣơng số tiền 37.778.000 đồng (Ba mƣơi bảy triệu bảy trăm bảy mƣơi tám nghìn đồng), chị Nguyễn Thị L số tiền 47.222.000 đồng (Bốn mƣơi bảy triệu hai trăm hai mƣơi hai nghìn đồng), chị Nguyễn Thị Ngọc H số tiền 47.222.000 đồng (Bốn mƣơi bảy triệu hai trăm hai mƣơi hai nghìn đồng), chị Nguyễn Thị Bé M số tiền 47.222.000 đồng (Bốn mƣơi bảy triệu hai trăm hai mƣơi hai nghìn đồng), anh Nguyễn Văn Ph số tiền 47.222.000 đồng (Bốn mƣơi bảy triệu hai trăm hai mƣơi hai nghìn đồng), chị Lâm Thị Mỹ X số tiền 47.222.000 đồng (Bốn mƣơi bảy triệu hai trăm hai mƣơi hai nghìn đồng), anh Lâm Tuấn V số tiền 47.222.000 đồng (Bốn mƣơi bảy triệu hai trăm hai mƣơi hai nghìn đồng), chị Lâm Thị Bích Ph số tiền 47.222.000 đồng (Bốn mƣơi bảy triệu hai trăm hai mƣơi hai nghìn đồng), anh Lâm Khánh Ph số tiền 47.222.000 đồng (Bốn mƣơi bảy triệu hai trăm hai mƣơi hai nghìn đồng).
Tổng số tiền ông Ch phải giao lại cho các thừa kế là 1.322.222.000 đồng (Một tỷ ba trăm hai mƣơi hai triệu hai trăm hai mƣơi hai nghìn đồng).
4. Về án phí sơ thẩm dân sự và chi phí tố tụng:
* Về án phí sơ thẩm dân sự:
Ông Nguyễn Văn Th phải chịu 9.444.000 đồng khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông Th đã nộp 1.250.000 đồng theo biên lai thu số 0008417 ngày 08/01/2020 của Chi cục thi hành án thị xã Hoà Thành nên ông Th còn phải nộp là 8.194.000 đồng (Tám triệu một trăm chín mƣơi bốn nghìn đồng). Ông Nguyễn Thành Ch phải chịu 18.889.000 đồng (Mƣời tám triệu tám trăm tám mƣơi chín nghìn đồng), bà Nguyễn Thị Ngọc S phải chịu 9.444.000 đồng (Chín triệu bốn trăm bốn mƣơi bốn nghìn đồng), anh Nguyễn Thanh Ph phải chịu 1.889.000 đồng (Một triệu tám trăm tám mƣơi chín nghìn đồng), anh Nguyễn Thanh H phải chịu 1.889.000 đồng (Một triệu tám trăm tám mƣơi chín nghìn đồng), chị Nguyễn Thị Kim Tr phải chịu 1.889.000 đồng (Một triệu tám trăm tám mƣơi chín nghìn đồng), anh Nguyễn Thành N phải chịu 1.889.000 đồng (Một triệu tám trăm tám mƣơi chín nghìn đồng) và anh Nguyễn Thanh Ph phải chịu 1.889.000 đồng (Một triệu tám trăm tám mƣơi chín nghìn đồng). Chị Nguyễn Thị L phải chịu 2.361.000 đồng (Hai triệu ba trăm sáu mƣơi mốt nghìn đồng), chị Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 2.361.000 đồng (Hai triệu ba trăm sáu mƣơi mốt nghìn đồng), chị Nguyễn Thị Bé M phải chịu 2.361.000 đồng (Hai triệu ba trăm sáu mƣơi mốt nghìn đồng) và anh Nguyễn Văn Ph phải chịu 2.361.000 đồng (Hai triệu ba trăm sáu mƣơi mốt nghìn đồng). Chị Lâm Thị Mỹ X phải chịu 2.361.000 đồng (Hai triệu ba trăm sáu mƣơi mốt nghìn đồng), anh Lâm Tuấn V phải chịu 2.361.000 đồng (Hai triệu ba trăm sáu mƣơi mốt nghìn đồng), chị Lâm Thị Bích Ph phải chịu 2.361.000 đồng (Hai triệu ba trăm sáu mƣơi mốt nghìn đồng) và anh Lâm Khánh Ph phải chịu 2.361.000 đồng (Hai triệu ba trăm sáu mƣơi mốt nghìn đồng).
Bà Nguyễn Thị Ngọc Y và bà Nguyễn Thị Ngọc T đƣợc miễn án phí theo quy định.
* Về chi phí tố tụng: Ghi nhận ông Th tự nguyện chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Ông Th đã nộp và đã chi phí xong.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu trả số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Báo cho các đƣơng sự có mặt biết đƣợc quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bà Nguyễn Thị Ng, bà Nguyễn Thị Kim A, anh Nguyễn Thanh Ph, anh Nguyễn Thanh H, chị Nguyễn Thị Kim Tr, anh Nguyễn Thành N, ông Lâm Văn Tr, chị Lâm Thị Mỹ X, chị Lâm Thị Bích Ph và anh Lâm Khánh Ph vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Hòa Thành; - Chi cục THADS thị xã Hòa Thành; - Các đƣơng sự; - Lƣu hồ sơ vụ án; - Lƣu trữ VP (G). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Giàu |