- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Về án phí áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc; Điều 65 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------------------------------------------------------------- Bản án số: 75/2021/HS-ST Ngày: 06-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Đông
Bà Nguyễn Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hậu, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2021/HSST-QĐ ngày 08 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1979 tại tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Đội 9 thôn K, xã T, huyện K1, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1955 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1955; Có vợ là chị Nguyễn Thị Mai H, sinh năm1981 và có 02 con; Tiền án: Bản án số 10/2019/HS-ST ngày 23/01/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 02 năm tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án 23/01/2019; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/12/2020; có mặt.
- Bị hại: Bà Đỗ Thị L1 sinh năm 1965, chết ngày 18/7/2020;
Người đại diện hợp pháp của bị hại (cũng là đại diện theo ủy quyền cho con của bị hại là chị Hoàng Hương D1): Chị Hoàng Ngọc H1sinh năm 1994 (là con bị hại); Nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ 10 phút ngày 18/7/2020 tại Km10+700 Quốc lộ 10 thuộc địa phận thôn Trung, xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ giữa xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-162.93 kéo rơ-mooc biển kiểm soát 15R-088.20 do Nguyễn Văn H điều khiển đi theo hướng từ cầu Đá Bạc đến cầu Giá đã va chạm với xe đạp đi phía trước bên phải cùng chiều do bà Đỗ Thị L1 điều khiển. Hậu quả bà Đỗ Thị L1 tử vong tại chỗ, xe đạp của nạn nhân bị hư hỏng nặng.
Nguyễn Văn H có giấy phép điều khiển xe ô tô theo quy định pháp luật, không sử dụng ma túy, rượu bia trong khi lái xe. Thời điểm trước khi xảy ra tai nạn, mật độ giao thông trên đường đông, Nguyễn Văn H điều khiển xe với vận tốc khoảng 30-40km/h. Nguyễn Văn H quan sát phía trước có một người phụ nữ điều khiển xe đạp mini đi cùng chiều, sát lề đường bên phải. Khi phần đầu xe ô tô của Nguyễn Văn H đi ngang xe đạp của bà Đỗ Thị L1 thì có một xe ô tô tải ngược chiều vượt nên Nguyễn Văn H đánh lái về bên phải để nhường đường cho xe ngược chiều thì va chạm với xe đạp của bà Đỗ Thị L1. Quan sát gương chiếu hậu, Nguyễn Văn H biết xảy ra tai nạn, Nguyễn Văn H đánh lái xe ô tô sang trái ra giữa lòng đường rồi dừng xe, kiểm tra thấy bà Đỗ Thị L1 đã chết. Sau đó Nguyễn Văn H đến Công an huyện Thủy Nguyên trình diện, đầu thú.
Tiến hành khám nghiệm tử thi bà Đỗ Thị L1, Cơ quan điều tra ghi nhận các dấu vết chủ yếu tập trung ở phía trên và bên trái cơ thể: Vùng cằm có vết xây xước da (kích thước 02cm x 01cm), kiểm tra không thấy dấu hiệu gẫy vỡ xương hộp sọ, xương vùng hàm mặt. Lồng ngực biến dạng, vùng ngực bụng có nhiều vết trầy xước da rải rác, kiểm tra thấy gẫy vỡ phức tạp, xương lồng ngực, xương sườn hai bên. Vùng cánh cẳng tay phải rách lóc da và cơ, lộ xương, kiểm tra không thấy gẫy, vỡ xương hai tay. Vùng thắt lưng phải trầy xước da (kích thước 15cm x 30cm), còn dính nhiều tạp chất dạng đất cát, kiểm tra thấy gẫy di lệch xương cột sống thắt lưng. Vết thương rách dập da và cơ vùng bẹn đùi trái (kích thước 25cm x 07cm), kiểm tra thấy gãy vỡ phức tạp khung xương chậu 1/3 trên xương đùi trái, thoát 1 phần các tạng trong ổ bụng ra ngoài. Vùng 1/3 trên cẳng chân trái biến dạng, kiểm tra thấy gẫy di lệch 1/3 trên hai xương cẳng chân trái, không thấy gẫy xương chân phải. Tại Bản kết luận giám định số 183 ngày 23/7/2020 của Trung Tâm pháp y thành phố Hải Phòng kết luận: nạn nhân bị tại nạn giao thông chết ngay tại chỗ do đa chấn thương, chấn thương ngực, bụng, cột sống thắt lưng nặng.
Tiến hành khám nghiệm hiện trường Cơ quan điều tra ghi nhận các dấu vết: hiện trường còn nguyên vẹn, được khám nghiệm theo hướng từ cầu Đá Bạc đi cầu Giá. Điểm mốc được xác định là mép đường phải và cột mốc H7/10 trên lề đường phải theo hướng khám nghiệm. Mặt đường rộng 11m, thẳng, phẳng, có vạch kẻ sơn đứt quãng đường phân chia làn đường, trong khu vực đông dân cư. Hai bên lề đường có hệ thống cống thoát nước bằng bê tông rộng trung bình 0,8m. Trên mặt đường có một vết di trượt dài là 4,2m (vết 01) bề mặt bám dính tạp chất màu đen dạng cao su, có chiều từ rõ đến mờ; điểm đầu cách mép đường phải là 0,75m và cách cột mốc 03m; điểm cuối cách mép đường phải là 0,85m. Một vết mài xước dài 6,3m (vết 02) từ rõ đến mờ; điểm đầu cách mép đường phải là 0,6m; điểm cuối cách vết 01 là 0,4m, nằm dưới trục bánh xe bên phải phía sau xe đạp mini màu xanh (đổ nghiêng phải sát lề đường). Đầu xe đạp mini màu xanh quay về hướng sân vận động xã Lưu Kiếm và nằm trên cống thoát nước trên lề đường phải theo hướng khám nghiệm; đuôi xe quay về hướng lề đường trái; trục bánh trước cách mép đường phải 0,9m và cách cột mốc 7,4m; trục bánh sau cách mép đường phải 0,1m. Một tử thi nữ giới nằm ngửa trên mặt đường và cống thoát trên lề đường phải theo hướng khám nghiệm; đầu quay về hướng lề đường phải, nằm trên nắp cống thoát nước, cách mép đường phải 0,4m và cách trục bánh sau xe đạp mini 0,5m; hai chân quay về hướng tim đường, gót chân phải cách mép đường phải 0,6m. Trên mặt đường có 02 vết phanh dài 4,5m (do một phương tiện gây vết), từ rõ đến mờ, khoảng cách giữa hai vết phanh là 1,9m; đầu vết phanh phía trong bên phải xe ô tô biển kiểm soát 15C-162.93 kéo rơ-mooc biển kiểm soát 15R-088.20 cách mép đường phải 02m, cách gót chân bên phải nạn nhân 11,2m; điểm cuối nằm dưới trục bánh xe thứ 2 bên phải romooc, cách mép đường phải 2,4m. Xe ô tô ô tô biển kiểm soát 15C-162.93 kéo rơ-mooc biển kiểm soát 15R-088.20 đỗ trên mặt đường, đầu xe quay về hướng cầu Giá, đuôi xe quay về hướng cầu Đá Bạc; trục bánh xe thứ hai bên phải rơ mooc cách mép đường phải 2,4m, cách điểm đầu vết phanh 4,5m; trục bánh xe phía sau bên phải đầu kéo cách mép đường phải 3,4m; trục bánh xe bên phải phía trước xe đầu kéo cách mép đường phải là 3,8m.
Tiến hành khám các phương tiện tham gia giao thông gây tai nạn, Cơ quan điều tra thu thập các dấu vết: - Xe ô tô biển kiểm soát 15C-162.93 kéo rơ-mooc biển kiểm soát 15R-088.20 có các dấu vết chủ yếu tập trung phía bên phải xe ô tô và rơ-mooc, cụ thể: mặt ngoài la zăng phía trước bánh xe thứ nhất bên phải từ trên xuống dưới có 03 vết mài trượt sạch bụi trên đầu ốc bít la zăng (kích thước 03cm x 0,5cm; 3cm x 0,3cm; 5,5cm x 2,5cm) lần lượt cách chân van 21cm, 5cm; tâm cách chân van 5cm trên bề mặt bám dính tạp chất lạ màu đen dạng bụi đất. Ở hàng bánh thứ 2 bên phải từ trên xuống dưới có vết mài trượt cao su (kích thước 12cm x 0,5cm) ở mặt ngoài bánh xe phía ngoài, trên bề mặt bám dính tạp chất lạ màu xanh dạng sơn, tâm cách chân van 40cm; mặt trong ốp chắn bùn phía trước bánh xe phía ngoài có bám dính tạp chất lạ dạng dịch mô (kích thước 02cm x 0,2 cm) điểm thấp nhất cách mặt đất 85cm. Ở hàng bánh thứ 3 bên phải từ trên xuống dưới, mặt ngoài bánh xe phía trongbám dính tạp chất lạ dạng dịch mô màu nâu nghi máu (kích thước 05cm x 03cm), tâm cách chân van 45cm. Ở hàng bánh thứ 4 phải từ trên xuống dưới, mặt ngoài bán xe phía ngoài bám dính tạp chất lạ dịch mô màu nâu đổ nghi máu (kích thước 16cm x 10cm), tâm cách chân van 40cm. Mặt trong ốp chắn bùn sau cùng bên phải bám dính rải rác tạp chất lạ dạng dịch mô màu nâu đỏ nghi máu (kích thước 80cm x 15cm) điểm thấp nhất cách mặt đất 23cm. Mặt ngoài bánh xe phía ngoài ở hàng bánh sau cùng bên phải từ trên xuống dưới có bám dính tạp chất là dạng dịch mô màu nâu đỏ nghi máu (kích thước 30cm x 20cm), tâm cách chân van 55cm. - Xe đạp mini sơn màu xanh: Lồng (giỏ) đầu xe công vênh, di lệch từ trước về sau, từ dưới lên trên; đáy giỏ xe bị rách ( kích thước 20cm x 06cm). Phần cao su của yên xe bật mấu hãm, cong vênh di lệch từ dưới lên trên, từ trước về sau, từ trái sang phải. Trên yên xe có vết mài trượt xước không rõ chiều hướng (kích thường 18cm x 07cm), trên bề mặt bám dính tạp chất dạng bột đá, điểm cao nhất cách mặt đất 85cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 68cm. Trục thân xe nối yên xe đến trục bàn đạp có nhiều vết cày xước: đầu ốc hãm liên kết giữa trục thân xe với trục yên xe bị mài trượt xước kim loại nham nhở không rõ chiều hướng, tâm cách mặt đất 61cm. Thanh trục xe bên phải nối trục xe với trục bánh xe sau bên phải có vết mài trượt xước (kích thước 35cm x 02cm) theo chiều từ trước về sau, bong tróc sơn để lộ phần kim loại bên trong, trên bề mặt có dính tạp chất dạng bột đá. Trên trục giữa thân xe nối yên xe với trục hộp xích có vết đứt gãy gập từ phải sang trái, tâm vết đứt gãy cách mặt dất 53cm. Mặt ngoài hộp xích cong vênh, có vết mài trượt xước kim loại, chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên (kích thước 40cm x 15cm) áp sát vào thân xe, trên bề mặt có dính dính tạp chất dạng bột đá. Ốp chắn bùn phái sau xe, yên xe sau bóp méo, cong vênh, biến dạng từ phải sang trái, áp sát vào bánh xe sau (kích thước 61 x 25cm) điểm thấp nhất cách mặt đất 37cm, điểm cao nhất cách mặt đất 66cm. Vành bánh xe sau bị yên xe phía sau bên phải áp sát, mài xước. Chân chống xe cong vênh, di lệch từ phải sang trái. Hệ thống phanh xe trước hoạt động bình thường, hệ thống phanh xe sau không xác định được do trục bánh xe sau sáp sát vào thân xe.
Vật chứng của vụ án: Xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu Freightliner biển kiểm soát 15C-162.93 và 01 sơmi rơ-móoc tải nhãn hiệu Cimc biển kiểm soát 15R-088.20 và chiếc xe đạp mini, sau khi thu thập các dấu vết để lại trên phương tiện tham gia giao thông gây tai nạn, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp và người đại diện hợp pháp của bà Đỗ Thị L1.
Vấn đề dân sự trong vụ án: Sau khi tai nạn xảy ra, Nguyễn Văn H đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bà Đỗ Thị L1 48.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bà Đỗ Thị L1 không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn H.
Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 21 tháng 4 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo trình bày đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và đồng ý với tội danh mà Kiểm sát viên luận tội, kết tội đối với bị cáo, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xin lỗi gia đình bị hại.
Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt nhưng có lời trình bày đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt ở trên, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đã nhận bồi thường của bị cáo và không có yêu cầu giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án này.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 5 Điều 65, Điều 56 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Tổng hợp hình phạt 02 năm tù về tội Đánh bạc tại Bản án số 10/2019/HS-ST ngày 23/01/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự không có yêu cầu nên không xem xét. Về xử lý vật chứng không có. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều hợp pháp.
- Về tội phạm mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người chứng kiến, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, kết luận giám định, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận như sau: Bị cáo Nguyễn Văn H có giấy phép lái xe theo quy định pháp luật, điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-162.93 kéo theo rơ-móoc biển kiểm soát 15R- 088.20 trong khu vực đông dân cư, không đi đúng phần đường, vượt xe không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe đạp mini do bà Đỗ Thị L1 đang điều khiển đi phía trước liền kề bên phải vi phạm các quy định tại các điều 9, điều 12, điều 14 Luật Giao thông đường bộ đã gây tai nạn giao thông với hậu quả nghiêm trọng làm bà Đỗ Thị L1 chết vào ngày 18/7/2020 tại KM10+700 quốc lộ 10, thuộc địa phận thôn Trung, xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, nên hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 21 tháng 4 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo như đã nêu trên và lời luận tội, kết tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật.
- Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và hình phạt áp dụng:
Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm đã xâm phạm an toàn giao thông và tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ gây mất trật tự trị an xã hội. Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đầu thú, người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo do đó bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, đã có tiền án thể hiện là có nhân thân chưa tốt. Vì vậy mức hình phạt chính mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng là phù hợp nên áp dụng hình phạt tù bằng mức khởi điểm như đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo. Do bị cáo đang phải chấp hành Bản án số 10/2019/HS-ST ngày 23/01/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 02 năm tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án 23/01/2019 nên áp dụng khoản 5 Điều 65, Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung. Tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về những vấn đề khác:
Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Không có.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Áp dụng khoản 5 Điều 65, Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt tại Bản án số 10/2019/HS-ST ngày 23/01/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt Nguyễn Văn H 02 năm tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án 23/01/2019, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung là 39 (ba mươi chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
Về án phí áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; - VKSND huyện Thủy Nguyên; - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên; - CQCSĐT Công an huyện Thủy Nguyên; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác; - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng; - Phòng PV06, PC10; - Lưu: VT; HCTP; Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trung Hiếu |