- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự phúc thẩm đối với bị cáo Ngô N - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô N.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2021/HS-PT Ngày: 28-4-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Ngầu.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Tuấn;
Bà Lê Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Việt- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 69/2021/TLPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo Ngô N do có kháng cáo của bị cáo Ngô N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2021/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN
Bị cáo có kháng cáo:
Ngô N, sinh năm 1958 tại tỉnh LA; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: nhà số 529, quôc lộ 22B, ấp BH, xã TB, huyện CT, tỉnh TN; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô N (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); vợ: Phan Thị Thanh H, sinh năm 1964; có 02 người con, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: không có. Nhân thân: ngày 14-5-2015 bị Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh TN xử phạt 30.000.000 đồng về tội “Vận chuyển hàng cấm” (Bản án số 39/2015/HSST, đã được xóa án tích); bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra còn có những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Ngô N là tài xế lái xe khách tuyến từ TN đi bến xe AS (TPHCM) và ngược lại. Khoảng 18 giờ ngày 11-6-2020, tại nhà của N thuộc ấp BH, xã TB, huyện CT, tỉnh TN, N có uống rượu với mấy người bạn, đến 20 giờ thì nghỉ uống. Đến khoảng 04 giờ sáng ngày 12-6-2020, N điều khiển xe ô tô loại 16 chỗ ngồi, biển số 70B-013.95 (xe do con ruột của bị cáo tên Ngô Thị Ngọc Đ đứng tên chủ sở hữu) chạy ra bến xe TN để làm thủ tục xuất bến. Đến 04 giờ 30 phút N điều khiển xe lưu thông trên đường TNV hướng ra đường 30/4, khi đến đoạn đường cong vòng xoay TN thuộc khu phố 4, phường 2, thành phố TN, bị cáo không làm chủ được tay lái nên đã lao xe lên lề phải đụng cong trụ sắt biển báo trên lề đường, sau đó xe tiếp tục lao về trước đụng vào phía sau xe ô tô taxi ML loại 07 chỗ ngồi, biển số 70A -216.85 do Đỗ Minh C điều khiển đang đậu trên trên lề phải làm cho xe của anh C trượt về phía trước lao sang chiều đường ngược lại, xe của bị cáo tiếp tục lao về trước đụng vào phía sau xe ô tô taxi ML loại 04 chỗ ngồi, biển số 70A -202.12 do anh Lê Hồng H điều khiển đang đậu trên lề phải thì mới dừng lại. Bị cáo được mọi người đưa đi cấp cứu do bị gãy chân. Đỗ Minh C và Lê Hồng H không bị thương tích nhưng hai xe ô tô taxi ML bị hư hỏng nặng. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại kết luận định giá tài sản số 38/KLĐG-TTHS ngày 04/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố TN, tỉnh TN kết luận: xe ô tô biển số 70A-202.12, nhãn hiệu Huyndai, số loại: GRAND 110 SEDAN 1.2 MT BASE, số máy: G4LAJM115136, số khung: RLUG6S1DAJN028250, năm sản xuất 2018 bị hư hỏng 17 bộ phận (có danh sách kèm theo) với giá trị thiệt hại 39.380.000 đồng; xe ô tô biển số 70A-216.85, nhãn hiệu Toyota, số loại: INNOVA 2.0E TGN140L-MUMSKU, số máy: 1TRA657427, số khung: RL4JW3EM0K3367838, năm sản xuất 2019 bị hư hỏng 48 bộ phận (có danh sách kèm theo) với giá trị thiệt hại 178.600.000 đồng.
Tại kết luận giám định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện cơ giới đường bộ số 36-TB/TTĐK7001S ngày 13/10/2020 của Trung tâm đăng kiểm tỉnh TN kết luận: xe ô tô biển số 70B-013.95 không đảm bảo an toàn kỹ thuật. Nguyên nhân không đạt kỹ thuật: Động cơ hỏng, không kiểm tra trên dây chuyền kiểm định. Toàn bộ thân võ, khung xe hư hỏng, biến dạng hoàn toàn (do va chạm khi tai nạn). Đèn chiếu sáng, tín hiệu phía trước bể, hư hỏng (do va chạm khi tai nạn). Vô lăng lái, thanh đòn dẫn động lái bị cong vênh (do va chạm khi tai nạn).
Bị cáo Ngô N và gia đình bị cáo đã bồi thường tổng số tiền 220.000.000 đồng theo yêu cầu của Công ty Cổ phần tập đoàn ML tại TN.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2021/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN tuyên xử:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Ngô N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Ngô N 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11-3-2021, bị cáo Ngô N kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Ngô N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TN phát biểu quan điểm xử lý vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hai; có thời gian phục vụ trong quân đội, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 năm tù là phù hợp, không nặng. Bị cáo có nhân thân không tốt, đã bị Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh TN xử phạt về tội “Vận chuyển hàng cấm”, không đủ điều kiện để cho bị cáo hưởng án treo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Ngô N; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Ngô N không tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng
Bị cáo Ngô N bị Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN xét xử sơ thẩm tại Bản án số 30/2021/HS-ST, ngày 05-3-2021; ngày 11-3-2021, bị cáo Ngô N làm đơn kháng cáo xin được hưởng án treo; đơn kháng cáo của bị cáo Ngô N đúng thủ tục và thời hạn theo quy định tại Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo Ngô N tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:
Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 12/6/2020, bị cáo Ngô N điều khiển xe ô tô loại 16 chỗ ngồi mà trong máu có nồng độ cồn 101mg/100ml máu, vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008, không làm chủ tay lái, xe lao lên lề đường đụng cong trụ sắt biển báo trên lề đường, sau đó xe tiếp tục lao về trước đụng vào phía sau xe ô tô taxi ML biển số 70A -216.85 và xe ô tô taxi ML loại 04 chỗ ngồi biển số 70A -202.12 đang dừng, đổ xe trên đường, gây thiệt hại về tài sản. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại 02 xe là 217.980.000 (hai trăm mười bảy triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng. Hành vi của bị cáo Ngô N đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Ngô N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với hành vi dừng, đổ xe của Đỗ Minh C (tài xế xe ô tô biển số 70A -216.85) và Lê Hồng H (tài xế xe ô tô biển số 70A -202.12) trước cổng sau Trường trung học cơ sở Trần Hưng Đ (nơi xảy ra tai nạn giao thông) đã vi phạm điểm h khoản 4 Điều 18 Luật giao thông đường bộ năm 2008, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố TN, tỉnh TN đã chuyển Công an thành phố TN, tỉnh TN xử phạt hành chính đối với Đỗ Minh C và Lê Hồng H là đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo Ngô N là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Xét kháng cáo của bị cáo Ngô N, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo N đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; sau khi gây tai nạn giao thông, gây thiệt hại về tài sản cho bị hại, bị cáo đã cùng gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại (đã bồi thường số tiền 220.000.000 đồng); bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Mặc dù bị cáo đã từng phạm tội, bị Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh TN xử phạt 30.000.000 đồng về tội “Vận chuyển hàng cấm” (tại Bản án số 39/2015/HSST, ngày 14-5-2015), bị cáo đã chấp hành nộp xong tiền phạt và tiền án phí vào ngày 17-6-2015, đương nhiên được xóa án tích kể từ ngày 18-6-2016.
Xét thấy, bị cáo N có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; phạm tội với lỗi vô ý, chỉ gây thiệt hại về tài sản, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, tính đến ngày phạm tội lần này (ngày 12/6/2020) đã được xóa án tích gần 04 năm, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, không cần thiết cách ly bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo cũng không gây nguy hại cho xã hội, và đồng thời cũng không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an tòan xã hội.
Từ những phân tích nêu trên, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Ngô N; không chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên; sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Ngô N không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô N.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2021/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2021của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN.
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
1.1. Xử phạt bị cáo Ngô N 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 28/4/2021).
1.2- Giao bị cáo Ngô N cho Ủy ban nhân dân xã TB, huyện CT, tỉnh TN giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
1.3- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Ngô N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng GĐKT 1 (TANDCC); - VKSND tỉnh TN; - TAND thành phố TN; - Công an thành phố TN; - Phòng PV 06 Công an tỉnh TN; - Chi cục THADS thành phố TN; - Phòng lý lịch STP.TTN; - Phòng KTNV-THA; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. - Lưu tập án HSPT; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Văn Ngầu |