- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thái Anh T. - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG ____________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2021/HS-PT Ngày : 06-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tấn Tài
Ông Đào Chí Keo
- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Xuân Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thành Năng - Kiểm sát viên
Trong ngày 06 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An
Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 200/2021/HSPT ngày
02 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Thái Anh T. do có kháng cáo của bị
cáo T. đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm
2021 của Tòa án nhân dân huyện T.:
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thái Anh T. (T1.), sinh năm 1990 tại huyện T., tỉnh An Giang; nơi
cư trú: Khóm 4, thị trấn T., huyện T., tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình
độ văn hóa (học vấn): Lớp 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính:
Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Thái S., sinh năm 1965 và bà Lê Thị
T2., sinh năm 1966; Bị cáo chưa có vợ, con.
Nhân thân:
+ Ngày 28/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện T., tỉnh An Giang xử phạt
01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, T. chấp hành xong hình phạt tù và
các nghĩa vụ dân sự, án phí;
+ Ngày 13/11/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã C., tỉnh An Giang xử phạt
01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 30/8/2017 chấp hành xong
hình phạt tù và nghĩa vụ án phí.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Anh Nguyễn Văn P., sinh ngày 05/9/2003 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm 2, thị trấn T., huyện T., tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N., sinh năm 1977
(Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khóm 2, thị trấn T., huyện T., tỉnh An Giang. (Trong vụ án, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng
cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/01/2021, Nguyễn Thái Anh T. tham gia
uống rượu cùng Nguyễn Văn P., Trương Trí T3. (bạn của T.), Chau Sếth Th., Chau Si N1, và Võ Mẩn D. tại khu vực đồi T4. thuộc ấp T5., xã N2., huyện T.. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, cả nhóm nghỉ và hẹn nhau đi uống nước, T. mượn xe mô tô biển số 67N1-499.47 của P. chở T3. chạy đi trước, còn P., N1, Th., D. chạy xe theo sau. Khi đến quán giải khát “Dân” thuộc khóm 4, thị trấn T., huyện T., tỉnh An Giang, T. kêu T3. xuống xe đợi để đi mua thuốc lá hút, T3. đồng ý và vào quán nằm võng. Lúc này, T. nảy sinh ý định chiếm đoạt xe nên điều khiển xe môtô 67N1-499.47 của P. chạy đến khu vực huyện B., thành phố H. rồi cầm xe tại cửa hàng “Đức L.” với số tiền 10.000.000 đồng. Khoảng 16 giờ cùng ngày, P. không thấy T. trả xe nên cùng mọi người đi tìm kiếm nhưng không thấy T.. Đến ngày 09/02/2021, T. đến Công an thị trấn T., huyện T. đầu thú và khai nhận hành vi chiếm đoạt xe của P..
Ngày 10/6/2021, Nguyễn Thái Anh T. bị khởi tố và ngày 14/6/2021 bị áp
dụng biện pháp tạm giam để điều tra.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 24 ngày 29/3/2021 của Hội đồng định
giá trong tố tụng hình sự huyện T. kết luận: Xe môtô biển số 67N1-499.47, nhãn hiệu Honda, loại Sonic, đã qua sử dụng, trị giá 63.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2021
của Tòa án nhân dân huyện T. đã quyết định: Áp dụng điểm c khoản 2 điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Anh T. 03 (ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 147/6/2021. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/10/2021 bị cáo Nguyễn Thái Anh T. làm
đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Thái Anh T. vẫn giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo trình bày: Bị cáo đã ăn năn hối cải. Sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục,
bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho bị hại và được bị hại làm đơn bãi nại. Bị
cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để được sớm trở về gia
đình.
Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu
quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:
- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thái Anh T. kháng
cáo trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc
kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Án sơ thẩm đánh giá đúng tính chất vụ
án, xét xử bị cáo Nguyễn Thái Anh T. về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản” và tuyên phạt mức án 03 năm tù là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên,
tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo đã vận động gia đình bồi thường cho người bị hại
số tiền 20.000.000 đồng và được người bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Đây
là các tình tiết mới phát sinh trong giai đoạn xét xử phúc thẩm. Do đó, đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái Anh
T., có thể giảm cho bị cáo từ 03 tháng đến 06 tháng; xử phạt bị cáo T. từ 02 năm
06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Nguyễn Thái Anh T. kháng cáo trong hạn
luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xét xử phúc thẩm.
Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thái Anh T. tại phiên tòa phúc thẩm
hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, người bị hại, người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong giai đoạn điều tra cũng như tại
phiên tòa sơ thẩm đồng thời cũng phù hợp với Kết luận định giá tài sản số 24 ngày
29/3/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T. và các tài liệu,
chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Khoảng 14 giờ
ngày 16/01/2021, lợi dụng sự tín nhiệm của anh Nguyễn Văn P. khi được anh P.
tin tưởng cho mượn xe mô tô biển số 67N1-499.47, trị giá 63.000.000 đồng, bị
cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt bằng cách mang đến cửa hàng “Đức L.” ở
huyện B., thành phố H. để cầm xe với số tiền 10.000.000 đồng. Do đó, cấp sơ
thẩm xét xử bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c
khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và
đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái Anh T.:
Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, có khả năng lao động
để nuôi sống bản thân. Thế nhưng với bản tính tham lam, lười lao động lại muốn
có nhiều tiền tiêu xài mà không phải bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã lợi dụng sự tín nhiệm, tin tưởng của Nguyễn Văn P. cho mượn xe mô tô rồi sau đó thực hiện hành chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo đã gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, ảnh hưởng xấu trong dư luận xã hội. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, tuyên phạt Nguyễn Thái Anh T. 03 năm tù là thỏa đáng; mức án trên là cần thiết để giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt. Lẽ ra phải giữ nguyên án sơ thẩm, tuy nhiên có xem xét: Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo đã vận động gia đình bồi thường cho người bị hại số tiền 20.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải và được người bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh trong giai đoạn xét xử phúc thẩm nên Hội đồng xét xử có cân nhắc giảm cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội thực sự ăn năn hối cải như đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay.
Về phần trách nhiệm dân sự:
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã vận động gia đình bồi
thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả. Do đó, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường tiếp cho người bị hại Nguyễn Văn P. số tiền 43.000.000 đồng.
Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thái Anh T. không
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng
cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái Anh T.. Sửa bản án hình sự
sơ thẩm về phần hình phạt.
Áp dụng điểm c khoản 2 điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ
luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái Anh T. 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội
“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2021.
Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân
sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thái Anh T. có trách nhiệm bồi thường tiếp cho người bị hại Nguyễn Văn P. số tiền 43.000.000 đồng (Bốn mươi ba triệu đồng).
Bị cáo Nguyễn Thái Anh T. không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh; - Tòa án nhân dân huyện T.; - Viện kiểm sát nhân dân huyện T.; - Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện T.; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.; - Sở Tư pháp tỉnh; - Trại tạm giam – Công an tỉnh; - Phòng lưu trữ hồ sơ - Công an tỉnh; - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án; - Văn phòng; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu Tòa Hình sự; hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hồng |