- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "D - D1"
- Tòa quyết gì? Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Hà Văn D1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2021/HNGĐ-ST Ngày 08 - 7 - 2021 V/v ly hôn giữa chị D và anh D1 |
NHÂN DANH
NƯỚC CÔNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Chuyết
Bà Đoàn Thị Dịu
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2021/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 06 năm 2021, về việc ly hôn, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm: 1993; Địa chỉ: Thôn 10, xã T,
huyện T, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Anh Hà Văn D1, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Thôn 10, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: Chị D và anh D1 vắng mặt (chị D có đơn đề nghị giải quyết
vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Nguyễn Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Văn D1 kết hôn với nhau do tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định vào tháng 3 năm 2012. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nhau, không có tiếng nói chung, anh D1 đánh chị, đuổi chị đi. Vì vậy, chị và anh D1 đã sống ly thân từ tháng 2/2016 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Văn D1.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hà Thị Khánh L, sinh ngày 10 tháng 01 năm 2013, hiện con chung đang ở cùng chị. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản, công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của ông Hà Văn T là bố đẻ anh Hà Văn D1 trình bày: Vợ chồng anh Hà Văn D1 và chị Nguyễn Thị D có được tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào tháng 3/2012, tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn anh chị chung sống với nhau đến khi có con chung được khoảng 01 năm thì chị D đi Hà Nội làm ăn, cũng từ đó anh chị không hợp nhau nên không chung sống cùng nhau nữa, gia đình có khuyên bảo chị về quê sinh sống làm ăn nhưng chị D không nghe. Vì vậy, anh chị đã xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân từ lâu. Việc chị D có đơn xin ly hôn anh D1, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ông đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án về việc chị D xin ly hôn anh D1, và các thông báo của Tòa án gửi cho anh D1, ông có liên lạc với anh D1 và đã thông báo cho anh D1 biết nhưng do bận công việc anh D1 không đến Tòa án. Việc chị D xin ly hôn, anh D1 cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị giải quyết theo pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán và HĐXX đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS. Đối với nguyên đơn; Từ khi thụ lý vụ án, chị D thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 BLTTDS. Bị đơn: Anh D1 vắng mặt không có lý do tại các buổi làm việc và tại phiên tòa là chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 BLTTDS.
- Về Nội dung: Áp dụng các Điều 51, 56, 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Đề nghị HĐXX; chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị D, xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Hà Văn D1; Áp dụng các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Hà Thị Khánh L, sinh ngày 10/01/2013 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng tiền nuôi con; Về tài sản, công nợ: Chị D không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét. Áp dụng Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án, đề nghị Tòa án tuyên án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Hà Văn D1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Hà Văn D1.
Chị Nguyễn Thị D vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy việc Tòa án xét xử vắng mặt chị D là đúng theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Hà Văn D1 kết hôn với nhau vào tháng 3 năm 2012, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Tháng 2/2016 phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không hiểu và thông cảm cho nhau nên thường xuyên xảy ra va chạm cãi chửi nhau, cũng từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân. Nay chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Văn D1.
Xét thực tế quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị D và anh Hà Văn D1 đã thực sự tan vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị D là phù hợp.
Về con chung: HĐXX xét thấy; Tại phiên tòa anh D1 vắng mặt, chị D vắng mặt nhưng có lời khai và quan điểm về yêu cầu nuôi con chung, mặt khác căn cứ vào nguyện vọng của con chung có đơn đề nghị được ở với chị D. Do vậy, để ổn định cuộc sống hiện tại cũng như việc học tập, chăm sóc giáo dục con, nên giao chị D có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung là Hà Thị Khánh L, sinh ngày 10/01/2013. Chấp nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản, công nợ: Chị Nguyễn Thị D không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
1. Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Hà Văn D1.
2. Con chung: Giao chị Nguyễn Thị D có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung là Hà Thị Khánh L, sinh ngày 10 tháng 01 năm 2013. Chấp nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng tiền nuôi con.
Anh Hà Văn D1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Án phí: Chị Nguyễn Thị D phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Được đối trừ tiền dự thu án phí đã nộp 300.000đ tại biên lai thu tiền số AA/2019/0002385 ngày 13 tháng 04 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh.
4. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị D và anh Hà Văn D1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành ánd ân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Trực Ninh; - Chi cục THADS huyện Trực Ninh; - UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; - Lưu HS, VP. | (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Kim Thu |