vanban.org

Bản án 75/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Xeo Thị L được ly hôn anh Lương Văn H.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Lương Thị Hà V, sinh ngày 08/9/2006 và Lương Minh H, sinh ngày 05/4/2013 cho anh Lương Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Buộc chị Xeo Thị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi chung là Lương Thị Hà V, sinh ngày 08/9/2006 mỗi tháng là 500.000đồng (Năm trăm ngàn) cho đến… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị L và anh H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Xeo Thị L được ly hôn anh Lương Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2021/HNGĐ - ST
Ngày: 14/4/2021
V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Phan Đình Trung

2.Ông: Nguyễn Phƣơng Phú

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2021/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2021 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2021/QĐST- HNGĐ ngày 05/4/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Xeo Thị L, sinh năm: 1986; địa chỉ: Bản T, xã NL, huyện TC, tỉnh NA. Có mặt.

Bị đơn: Anh Lƣơng Văn H, sinh năm: 1983; Bản T, xã NL, huyện TC, tỉnh NA.Vắng mặt ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa nguyên đơn chị Xeo Thị Liên trình bày như sau:

Về hôn nhân: Chị và anh Lương Văn H kết hôn vào ngày 01/8/2007 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hữu Khuông, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2018 đến nay. Tình cảm vợ chồng là không còn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Lương Văn H.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lương Thị Hà V, sinh ngày 08/9/2006 và Lương Minh H, sinh ngày 05/4/2013. Từ khi vợ chồng sống ly thân thì cả hai người con ở với anh Lương Văn H. Vợ chồng ly hôn chị Xeo Thị L có nguyện vọng giao cả 02 người con cho anh Lương Văn H nuôi dưỡng. Chị cấp dưỡng nuôi 02 người con mỗi tháng là 1.000.000đồng.

Về chia tài sản và nợ: Chị Xeo Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến bị đơn anh Lương Văn H: Tạị văn bản ý kiến của bị đơn đề ngày 10/3/2021 anh Lương Văn H trình bày: Anh và chị Xeo Thị L kết hôn vào ngày 01/8/2007 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hữu Khuông, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Nay tình cảm vợ chồng là không còn, anh Lương Văn H đồng ý ly hôn với chị Xeo Thị L.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lương Thị Hà V, sinh ngày 08/9/2006 và Lương Minh H, sinh ngày 05/4/2013. Anh Lương Văn H có nguyện vọng được nuôi cả hai người con và yêu cầu chị Xeo Thị L cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000đồng/tháng cho cả hai người con.

Về tài sản và nợ: Anh Lương Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Lương Văn H đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 16/3/2021 cháu Lương Thị Hà V, sinh ngày 08/9/2006 và Lương Minh H, sinh ngày 05/4/2013 khai: Hiện tại cả hai cháu đang ở với bố tại Bản T, xã NL, huyện TC, tỉnh NA. Trường hợp bố, mẹ mà ly hôn thì các cháu có nguyện vọng được ở với bố Lương Văn H.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81,Điều 82,Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Xeo Thị L được ly hôn anh Lương Văn H.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Lương Thị Hà V, sinh ngày 08/9/2006 và Lương Minh H, sinh ngày 05/4/2013 cho anh Lương Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Buộc chị Xeo Thị L phải có vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000đồng (Một triệu) cho cả hai người con, đến khi các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 4/2021.

Về chia tài sản và nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị Xeo Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: §©y lµ vô ¸n thuéc tr êng hîp Tòa án kh«ng tiÕn hµnh hoµ gi¶i được vì bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt được quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 §iÒu 207 của Bé luËt tè tông d©n sù. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Xeo Thị L và anh Lương Văn H là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hữu Khuông, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An vào ngày 01/8/2007. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Chị Xeo Thị L xin ly hôn thì anh Lương Văn H cũng đồng ý.

Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa chị Xeo Thị L và anh Lương Văn H chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng,đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Xeo Thị L, xử cho chị được ly hôn với với anh Lương Văn H là đúng với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lương Thị Hà V, sinh ngày 08/9/2006 và Lương Minh H, sinh ngày 05/4/2013. Trong quá trình giải quyết vụ án thì anh Lương Văn H có nguyện vọng được nuôi cả hai người con và yêu cầu chị Xeo Thị L cấp dưỡng nuôi con cho 02 người con là 1.000.000đồng/tháng thì chị Xeo Thị L cũng đồng ý. Nguyện vọng của hai người con là được ở với bố Lương Văn H.

Hội đồng xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên ghi nhận. Giao con chung là Lương Thị Hà V, sinh ngày 08/9/2006 và Lương Minh H, sinh ngày 05/4/2013 cho anh Lương Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Buộc chị Xeo Thị L phải có vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000đồng (Một triệu) cho cả hai người con, đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành là đảm bảo được quyền lợi mọi mặt của con, phù hợp với nguyện vọng của con, đúng với quy định tại các Điều 81,Điều 82,Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản và nợ: Chị Xeo Thị L và anh Lương Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Xeo Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Cho chị Xeo Thị L được ly hôn anh Lương Văn H.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Lương Thị Hà V, sinh ngày 08/9/2006 và Lương Minh H, sinh ngày 05/4/2013 cho anh Lương Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Buộc chị Xeo Thị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi chung là Lương Thị Hà V, sinh ngày 08/9/2006 mỗi tháng là 500.000đồng (Năm trăm ngàn) cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 4/2021.

Buộc chị Xeo Thị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi chung là Lương Minh H, sinh ngày 05/4/2013 mỗi tháng là 500.000đồng (Năm trăm ngàn) cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 4/2021.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.

Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về án phí: Chị Xeo Thị L phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn)đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 (Ba trăm ngàn)đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng(Ba trăm ngàn) theo biên lai số 0004613 ngày 05/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ