vanban.org

Bản án 75/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị Th được ly hôn với anh Hoàng Quốc V.

Về con chung: Giao con chung Hoàng Thị Khả N, sinh ngày 04/11/2017 cho chị Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Thảo Vĩnh"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị Th được ly hôn với anh Hoàng Quốc V.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỚN QUẢN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75 /2021/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 9 - 2021
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thủy

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Điểu Toàn

2. Ông Lê Văn Quý

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 50/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 01/7/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Thị Th, sinh năm 1997

Trú tại: Tổ 4, ấp S, xã TH, huyện Hớn Q, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn:

Anh Hoàng Quốc V, sinh năm 1994

Trú tại: Tổ 3, ấp X, xã P, huyện Hớn Q, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trình bày của nguyên đơn Thị Th:

Chị Thị Th và anh Hoàng Quốc V tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 81 ngày 05/10/2017 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Hớn Q, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh V có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác nên vợ chồng đã không còn sống chung từ năm 2019 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục chung sống nên chị Th yêu cầu ly hôn với anh V.

Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Thị Khả N, sinh ngày 04/11/2017, khi ly hôn chị Th yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung không có.

Bị đơn Hoàng Quốc V: Tuy đã được Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng anh V vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án mà không lý do, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát phát biểu như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận cho Thị Th ly hôn với anh Hoàng Quốc V. Giao con Hoàng Thị Khả Ngân cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Thị Th khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Hoàng Quốc V có nơi cư trú tại xã P, huyện Hớn Quản, nên đây là vụ án Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Chị Thị Th có đơn yểu cầu xét xử vắng mặt, anh Hoàng Quốc V được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt cả hai đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh V tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Chị Th xác định vợ chồng có mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn nên yêu cầu ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, anh V không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của chị Th, không tham gia quá trình hòa giải tại Tòa án cho thấy không mong muốn đoàn tụ và theo kết quả xác minh tại địa phương thể hiện mâu thuẫn giữa chị Th và anh V là có thật. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Th được ly hôn với anh V.

Về con chung: Chị Th hiện nay đang nuôi con Hoàng Thị Khả N, sinh năm 2017 và có yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Anh V cũng không có yêu cầu gì đối với con chung. Do vậy yêu cầu của chị Th được Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị Th không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên không giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung không có nên không giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm 300.000đ.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 207, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị Th được ly hôn với anh Hoàng Quốc V.

2. Về con chung: Giao con chung Hoàng Thị Khả N, sinh ngày 04/11/2017 cho chị Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Thị Th chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 023523 ngày 09/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ