- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh Th phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 75/2020/HSST Ngày: 09/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Khanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Oanh, ông Vũ Quyết Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Thắng; Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh
Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:
80/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 77/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Minh Th; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 01
tháng 8 năm 1985; tại tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên;
nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Minh Th (còn sống) và con bà Hoàng Thị Nh (còn
sống); có vợ là Nguyễn Thị T và có 02 con.
Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án; chưa bị xử lý vi phạm
hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ tại Công an thành phố Điện Biên Phủ từ ngày 18/5/2020 cho
đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Chị Nguyễn Thị T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ x,
thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên, có mặt.
2. Chị Phạm Hoàng A; tên gọi khác: Không; sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ
N, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 13 giờ ngày 18/5/2020, Phạm Minh Th một mình lấy xe mô tô
biển kiểm soát 27B1-617.62 đi đến khu vực bản Cha Lọ, xã Ảng Tở, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên mua được 95 viên ma túy với giá 2.000.000đ của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 30 tuổi không biết tên và địa chỉ. Sau khi mua được ma túy Th đã sử dụng hết 03 viên, số ma túy còn lại Th cất vào hai túy quần bên trái và bên phải Th đang mặc. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày trên đường đưa vợ vào thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, Th bị Công an thành phố Điện Biên Phủ phát hiện và bắt quả tang.
Ngày 19/5/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Điện Biên
Phủ, tỉnh Điện Biên gửi toàn bộ vật chứng thu giữ của bị cáo làm mẫu giám định.
Tại Bản kết luận giám định số: 443/GĐ-PC09 ngày 27/5/2020 của Phòng
kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:
“- 02 (hai) mẫu viên nén màu hồng ký hiệu T1, T2 gửi giám định là chất
ma túy: Loại Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018…”.
- Khối lượng vật chứng ký hiệu M1: 1,18 gam; M2: 7,87 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì
về Kết luận giám định trên của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.
Bản cáo trạng số: 76/CT-VKSTPĐBP ngày 24/8/2020 của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Phạm Minh Th về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy vật chứng; trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1-617.62 cho chủ sở hữu tài sản và bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Trong quá điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định
truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
- Lời nói sau cùng của bị cáo đã thừa nhận toàn bộ sự việc và nhận thức
được hành vi mua ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát truy tố và luận tội đối với bị cáo là đúng, không bị oan sai. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo Phạm Minh Th trong quá trình điều tra và tại phiên tòa
phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Lời khai của người làm chứng; Biên bản Niêm phong vật chứng; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ căn cứ để xác định
vào ngày 18/5/2020, bị cáo Phạm Minh Th đã có hành vi tàng trữ trái phép 9,05
gam ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái
phép chất ma túy được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249/BLHS:
"2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05
năm đến 10 năm:
... g) ... Methamphetamine, ... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;".
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực
hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép
chất ma túy, theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng
người, đúng tội và đúng pháp luật, bị cáo không bị oan sai.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng của bị cáo là rất nghiêm
trọng. Mặc dù biết việc tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm,
nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật, để thỏa mãn nhu cầu bản thân, bị cáo
đã cố ý trực tiếp mua ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã
hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy,
vi phạm pháp luật cần phải xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp
dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s
khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội
của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn
để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo có ý
thức chấp hành pháp luật, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo cai
nghiện được ma túy và trở về hòa nhập với gia đình và cộng đồng.
Về tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định tố tụng của các cá nhân
và cơ quan điều tra, truy tố của thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên:
Trong quá trình điều tra, truy tố các cá nhân và cơ quan điều tra, truy tố đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng
của các cá nhân và cơ quan điều tra, truy tố của thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện
Biên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng vụ án:
Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c
khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy 8,85 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định; 01 hộp nhựa; 01 mảnh nilon; 01 chiếc điều tự chế là vật chứng của vụ án.
Cần trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1-617.62 kèm theo đăng ký
và chìa khóa xe cho chủ sở hữu là chị Phạm Hoàng An.
Các vấn đề khác:
- Bị cáo Th khai mua ma túy của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng
30 tuổi. Bị cáo không biết tên và địa chỉ, tại khu vực bản Cha Lọ, xã Ảng Tở, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên, cơ quan điều tra không có đủ cơ sở đề điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không đề cập việc xử lý đối với người đàn này.
- Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1-617.62 là tài sản chung của vợ chồng bị
cáo Th. Nhưng đến ngày 15/11/2019 vợ chồng bị cáo Th đã bán chiếc xe này cho bà Phạm Hoàng An và đã nhận đủ số tiền giá trị của chiếc xe là 22.000.000đ, đến nay bà An chưa làm thủ tục sang tên xe; Căn cứ vào khoản 3 Điều 6 Thông tư số 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành và Điều 30 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ thì việc mua bán xe không làm thủ tục sang tên trong thời hạn 30 ngày thì bị phạt từ 400 - 600.000đ. Do vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị cơ quan Công an có thẩm quyền xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo quy định hiện hành.
Việc bị cáo Th dùng chiếc xe mô tô này đi mua ma túy chị Phạm Hoàng
An không biết. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1-617.62 cho chị Phạm Hoàng An.
Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định thì người phạm
tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một
phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập không ổn định, không có tài sản gì có giá trị tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình
sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Phạm Minh Th phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh Th phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều
51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh Th 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 18 tháng 5 năm 2020.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ
luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 8,85 gam Methamphetamine; 01 hộp nhựa; 01 mảnh nilon; 01
chiếc điều tự chế.
Trả lại cho bà Phạm Hoàng An chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1-617.62
kèm theo đăng ký và chìa khóa xe.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/8/2020 giữa Công an thành
phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Minh Th phải nộp 200.000 đồng
(hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự bị
cáo có quyền kháng cáo toàn bộ Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần
Bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án (ngày 09/9/2020)./.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Điện Biên; - Viện kiểm sát ND tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh ĐB; - Viện kiểm sát NDTPĐBP; - Công an TPĐBP; - Công an Nhà tạm giữ CATP; - Chi cục Thi hành án DSTPĐBP; - Hồ sơ THA hình sự; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu VP; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Phan Văn Khanh |