vanban.org

Bản án 75/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 22/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng đ ểm c khoản 2, k oản 5 Đ ều 175; đ ểm b, s khoản 1, khoản 2 Đ ều 51; đ ểm g khoản 1 Đ ều 52; Đ ều 38; Đ ều 50; Đ ều 47; Đ ều 48; Đ ều 41 của Bộ luật Hình sự.

Áp dụng các Đ ều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. [1] Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thùy T phạm tộ “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng đ ểm c khoản 2, k oản 5 Đ ều 175; đ ểm b, s khoản 1, khoản 2 Đ ều 51; đ ểm g khoản 1 Đ ều 52; Đ ều 38; Đ ều 50; Đ ều 47; Đ ều 48; Đ ều 41 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:75/2020/HS-ST.
Ngày 22 - 6 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: -Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.

- Các Hội thẩm nhân dân:

r n ị o và bà Nguyễn Thị C ương. Thư ký phiên toà: Đỗ Thị Nhung - L

ư ký của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ng y 22 t áng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ t ẩm công khai vụ án hình sự sơ t ẩm thụ lý số: 60/2020/TLST- S ng y 27 t áng 4 năm 2020, theo Quyết địn đư vụ án ra xét xử số: 72/2020/QĐXXS -HS ngày 04 t áng 6 năm 2020 v Quyết địn o n p n t số 16/2020/ SS -QĐ ng y 15 t áng 6 năm 2020, đối với bị cáo:

Bùi Thùy T, s n năm 1988 tại tỉnh Hà Nam; nơ cư trú: t ôn LL, xã PV, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Nguyên kế toán, thủ quỹ Công ty Phúc Khang Châu; trìn độ văn ó : 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N m; con ông: ù Văn D1, s n năm 1962; con bà: Nguyễn Thị H, s n năm 1962; c ồng: Nguyễn Tiến D2, s n năm 1986; con: Có 03 con, con lớn s n năm 2011, con nhỏ sinh 09/01/2017; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; hiện bị cáo đ ng bị áp dụng biện pháp ngăn c ặn “Cấm đ k ỏ nơ cư trú” của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Có mặt tại phiên tòa.

* ị hại: Công ty N

ương mại dịch vụ PKC.

Địa chỉ: số 59, ngõ 170, đường LCT, p ường Đ, thành phố PL, tỉnh Hà Nam.

- Đại diÖn theo pháp luật: Ông Nguyễn Xuân T1, s n năm 1985 - G ám đốc Công ty.

Trú tại: thôn MC, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam. Ông T1 vắng mặt tại phiên tòa.

*Người làm chứng:

- Chị Nguyễn Thị P, s n năm 1991.

- Anh Nguyễn Văn L, s n năm 1989.

- Chị Nguyễn Thị H, s n năm 1985.

- Anh Phạm Quang K, s n năm 1994.

- Anh Nguyễn Hà N, s n năm 1992.

- Anh Phạm Thanh B, s n năm 1986.

- Chị Tr n Thị Thu H, s n năm 1993.

- An Đỗ Minh T, s n năm 1986.

Những người làm chứng đều vắng mặt tạ p n t .

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt n ư s u:

Công ty TNHH t ương mại dịch vụ PKC (Công ty PKC) kinh doanh vận tải n k ác đường bộ. Ngày 01/07/2019, Công ty PKC tại Hà Nam ký hợp đồng với Công ty TNHH PKC Hà Nội, có trụ sở tại số 41A, ngõ 105 Y n o , p ường Yên Hoà, quận C u Giấy, thành phố Hà Nội với mục đíc thuê xe ô tô chạy dịch vụ đư đón vận chuyển hành khách khu vực tỉnh Hà Nam, thành phố Hà Nội.

Do biết Công ty PKC tạ

N m đ ng c n tuyển nhân viên kế toán nên ngày 09/7/2019, Bùi Thuỳ T đến Công ty xin tuyển vào vị trí kế toán v được anh Nguyễn Xuân T1 - G ám đốc Công ty nhận vào làm với hình thức thử việc, c ư ký hợp đồng l o động. Khi vào làm việc, T được chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn L là những người bạn của anh Nguyễn Xuân T1, giúp anh T1 một số công việc trong thời gian Công ty tuyển kế toán bàn giao lại hồ sơ, sổ sách cùng tiền quỹ củ Công ty để T quản lý.

Anh T1 giao nhiệm vụ cho T làm kế toán kiêm thủ quỹ. Hàng ngày, T có nhiệm vụ thu tiền lệnh của các lái xe, quản lý tiền t u được tại quỹ tiền mặt và sử dụng để chi phí cho hoạt động chung của Công ty; làm báo cáo thu chi ngày, tháng; lập báo cáo tổng hợp doanh thu, bảng lương, đ nộp tiền vào tài khoản Ngân hàng để lá xe đổ d u… Từ ng y 09/7/2019 đến ngày 31/8/2019, T đ 16 l n xuất quỹ Công ty với tổng số tiền 481.100.000 đồng để trả tiền xăng d u, bằng cách nộp tiền trực tiếp 06 l n qua Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Hà Nam với tổng số tiền là 90.000.000 đồng (mức phí chuyển tiền l 22.000đ/l n x 6 l n = 132.000 đồng) và tự nộp tiền vào tài khoản số 19032636731668 là tài khoản cá nhân của T mở tại Ngân hàng ec omb nk c n án

N m, s u đó dùng p n mềm được c đặt ở đ ện thoại chuyển 39 l n với tổng số tiền 304.368.000 đồng đến 02 tài khoản d u của Công ty. Trong tổng số 45 l n nộp tiền thì có 16 l n T không nộp hết mà giữ lạ để chiếm đoạt chi tiêu cá nhân với tổng số tiền là 86.600.000 đồng, l n nhiều nhất là 20.220.000 đồng, l n ít nhất l 44.000 đồng, trong đó có 09 l n chiếm đoạt từ 4.000.000 đồng trở lên.

Đến ngày 11/9/2019, do lo sợ sự việc bị phát hiện nên Bùi Thùy T đ tự ý nghỉ việc. Anh Nguyễn Xuân T1 đ k ểm tra lại hồ sơ, sổ sách thì phát hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của Bùi Thùy T n n l m đơn tố cáo gử Cơ qu n Cảnh sát đ ều tra Công an tỉn

N m để đ ều tra, xử lý.

Quá trìn đ ều tra, Bùi Thùy T đ tự nguyện giao nộp số tiền 86.600.000 đồng c o Cơ qu n Cản sát đ ều tra Công an tỉn

N m để khắc phục hậu quả.

Từ những nội dung trên, bản cáo trạng số 17/CT-VKS-P2 ngày 27/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đ truy tố Bùi Thùy T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại đ ểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

* Tạ p n t sơ t ẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý luận tội: Giữ nguyên qu n đ ểm truy tố bị cáo n ư đ n u trong bản cáo trạng, k ông t y đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hộ đồng xét xử:

+ Áp dụng đ ểm c khoản 2 Đ ều 175; đ ểm b, s khoản 1, khoản 2 Đ ều 51; đ ểm g khoản 1 Đ ều 52; Đ ều 38; Đ ều 50 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Thùy T mức án từ 3 đến 4 năm tù, về tộ “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

+ Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 5 Đ ều 175; Đ ều 41 của Bộ luật Hình sự: Cấm hành nghề kế toán hoặc thủ quỹ trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Đ ều 47; Đ ều 48 của Bộ luật Hình sự; Đ ều 106 củ ộ luật ố tụng ìn sự: Trả lại Công ty N t ương mại dịch vụ PKC số tiền 86.600.000đ.

- Bị cáo đ k n ận toàn bộ n v đ t ực hiện tương tự n ư bản cáo trạng đ truy tố và nhất trí với bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đ công bố tại phiên tòa. Bị cáo không tranh luận bào chữa gì. Lời nói sau cùng bị cáo chỉ xin Hộ đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

r n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hộ đồng xét xử nhận địn n ư s u:

Về hành vi, quyết định tố tụng củ Đ ều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trìn đ ều tra, truy tố: Những người tiến hành tố tụng n y đ t ực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục t eo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trìn đ ều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định củ người tiến hành tố tụng. Do đó, các n v , quyết định tố tụng củ người tiến hành tố tụng đ t ực hiện đều hợp pháp.

Đối vớ người tham gia tố tụng là đại diện theo pháp luật của bị ạ , người làm chứng vắng mặt tạ p n t n ưng trong ồ sơ vụ án đ có đ y đủ lời khai của họ, được cơ qu n đ ều tra tiến hành lấy lờ k t eo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy Hộ đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Đán g á về tộ d n : Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo trong quá trìn đ ều tra. Hộ đồng xét xử thấy cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của đại diện theo pháp luật của bị ạ , những người làm chứng cũng n ư các t l ệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đ được cơ qu n đ ều tra thu thập trong hồ sơ vụ án.

N ư vậy, có đủ cơ sở kết luận: Bùi Thùy T là nhân viên thử việc (c ưa ký hợp đồng l o động) được giao làm kế toán kiêm thủ quỹ của Công ty PKC tại Hà Nam. Quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, lợi dụng sự t n tưởng củ g ám đốc công ty, nên từ ng y 09/7/2019 đến ngày 31/8/2019, Bùi Thùy T đ có n v g an dối bằng cách xuất quỹ Công ty 16 l n với tổng số tiền 481.100.000 đồng n ưng T chỉ nộp 45 l n tiền vào 02 tài khoản d u của Công ty với tổng số tiền là 394.368.000 đồng, chi phí nộp tiền là 132.000 đồng.

Trong tổng số 45 l n nộp tiền thì có 16 l n T không nộp hết mà giữ lạ để chiếm đoạt chi tiêu cá nhân với tổng số tiền là 86.600.000 đồng, trong đó có 09 l n chiếm đoạt từ 4.000.000 đồng trở lên.

Hành vi nêu trên của Bùi Thùy T đ phạm tộ “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại đ ểm c khoản 2 Đ ều 175 của Bộ luật Hình sự. Qu n đ ểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đối với bị cáo n ư bản cáo trạng đ n u l có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Đán g á về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Thùy T là nguy hiểm cho xã hộ , n v đó đ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các cơ qu n, tổ chức, gây ản ưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tạ đị p ương. Do vậy, c n phải xét xử nghiêm, hình phạt đối với bị cáo phải thỏa đáng v tương xứng với hành vi phạm tội nhằm dăn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đán g á về hình phạt:

- Hình phạt c ín : K lượng ìn cũng c n cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, c ư có t ền án tiền sự, phạm tội l n đ u.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 09 l n chiếm đoạt số tiền từ 4.000.000 đồng trở lên, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội từ 02 l n trở lên t eo quy định tạ đ ểm g khoản 1 Đ ều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trìn đ ều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn k báo, ăn năn, ối cải, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đ tự nguyện nộp lại số tiền chiếm đoạt nhằm khắc phục hậu quả. Ngoài ra, bị cáo có 03 con nhỏ trong đó có 01 cháu bị chứng tự kỷ, tăng động, bố bị cáo có thời gian tham g quân đội xuất ngũ trở về đị p ương, đạ d ện t eo p áp luật củ bị ạ đề ng ị xem x t g ảm n ẹ ìn p ạt c o bị cáo, nên xem xét cho bị cáo được ưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tạ các đ ểm b, s khoản 1, khoản 2 Đ ều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy c n thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm.

- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy c n cấm bị cáo hành nghề kế toán hoặc thủ quỹ trong một thời gian nhất địn n ư đề nghị củ đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Xuân T1 l ngườ đại diện theo pháp luật của Công ty N t ương mạ dịc vụ PKC yêu c u Bùi Thùy T bồi t ường toàn bộ số tiền đ c ếm đoạt là 86.600.000đ, ngo r k ông có y u c u gì k ác. Quá trìn đ ều tra, Bùi Thùy T đ tự nguyện nộp số tiền đ c ếm đoạt c o Cơ qu n đ ều tra nhằm khắc phục hậu quả, số tiền trên hiện đ ng được gửi giữ tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý nên c n trả lại cho Công ty PKC.

Về án phí hình sự sơ t ẩm: Bị cáo nộp án p í t eo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đạ d ện t eo p áp luật củ bị ạ thực hiện quyền k áng cáo t eo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng đ ểm c khoản 2, k oản 5 Đ ều 175; đ ểm b, s khoản 1, khoản 2 Đ ều 51; đ ểm g khoản 1 Đ ều 52; Đ ều 38; Đ ều 50; Đ ều 47; Đ ều 48; Đ ều 41 của Bộ luật Hình sự.

- Áp dụng các Đ ều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Áp dụng luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/U VQ 14 ng y 30 t áng 12 năm 2016 của Ủy b n ường vụ Quốc hộ quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thùy T phạm tộ “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

[2] Xử phạt bị cáo Bùi Thùy T 36 (B mươ sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Cấm ù ùy T n ng ề kế toán oặc t ủ quỹ l 01 (một) năm kể từ ng y c ấp n xong ìn p ạt tù.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Trả lạ Công ty N

ương mại dịch vụ PKC số tiền 86.600.000đ ( ám mươ sáu tr ệu sáu trăm ng ìn đồng).

(Theo giấy ủy nhiệm chi số 21 ng y 29 t áng 4 năm 2020 g ữ đơn vị trả tiền là Công an tỉn

N m v đơn vị nhận tiền là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý)

[4] Án phí hình sự sơ t ẩm: Buộc bị cáo Bùi Thùy T phải nộp 200.000đ (H trăm ng ìn đồng).

Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tạ p n t được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đạ d ện t eo p áp luật củ bị ạ vắng mặt tạ p n t được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

rường hợp bản án được t

n t eo quy định tạ Đ ều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tạ các Đ ều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu t

n án được thực hiện t eo quy định tạ Đ ều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ