- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Anh Tuấn - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2020/HS-ST Ngày 21- 9 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thế Lực
2. Ông Nguyễn Văn Chung
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Giang - Thư ký Toà án nhân dân huyện V.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2020/HSST ngày 07 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2020/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2020, đối với bị cáo:
Lê Anh T, sinh ngày 24 tháng 01 năm 1998; trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).
Người bị hại: Anh Nguyễn Duy M, sinh năm 1993; trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Nguyễn Duy D, sinh năm 1972; trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện g, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Văn Q, sinh năm 1973; trú tại: Thôn R, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
- Anh Phùng Gia T, sinh năm 1992; trú tại: Thôn L, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 31/3/2020, Lê Anh T, sinh năm 1998; đang ở nhà mình tại thôn , xã B huyện V thì Nguyễn Duy M, sinh năm 1993 là người cùng thôn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88S7- 7492 đi đến rủ đi ăn sáng. Sau đó, M điều khiển xe chở T đi đến quán ăn sáng tại thôn Đ, xã Y, huyện V. Trong khi ăn cả hai cùng uống khoảng 500ml rượu trắng. Khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, khi đã ăn xong, M bảo T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88S7- 7492 chở M đi đến thành phố V trả tiền hoa. T đồng ý rồi điều khiển xe mô tô trên chở M tham gia giao thông đi theo đường quốc lộ 2A hướng từ thành phố V1 đi thành phố V, cả hai đều không đội mũ bảo hiểm. Khi đi đến đoạn đường Km41+700 đường quốc lộ 2A thuộc xã C, huyện V, T phát hiện có một xe ô tô container đang di chuyển phía trước cùng chiều, T điều khiển xe đi sang phần đường bên trái theo chiều di chuyển để vượt xe ô tô này. Ngay lúc này, T phát hiện xe ô tô tải biển kiểm soát 88C- 164.11 (của ông Trần Văn Q, sinh năm 1973; trú tại xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc) do Phùng Gia T, sinh năm 1992; trú tại phường Đ, thành phố V điều khiển đang đi đúng phần đường, làn đường quy định theo hướng ngược chiều đến. Do không làm chủ tốc độ, vượt xe không đảm bảo an toàn, khoảng cách giữa xe do T và xe do anh T điều khiển rất gần nên T đạp phanh gấp dẫn đến xe mô tô do T điều khiển bị đổ trượt trên mặt đường quốc lộ 2A theo hướng từ xã C đi thành phố V làm M ngã văng ra đường trượt vào gầm xe ô tô tải do T điều khiển đang đi đến, T va đập vào thành thùng xe bên trái xe ô tô này còn xe mô tô T điều khiển va vào cửa bên trái xe ô tô này rồi đổ trượt về hướng thành phố V. Hậu quả: M tử vong tại chỗ, T bị thương phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc đến ngày 07/4/2020 thì ra viện, các phương tiện liên quan hư hỏng nhẹ.
Sau khi nhận được tin báo nêu trên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện liên quan và tổ chức các hoạt động điều tra theo quy định pháp luật. Quá trình điều tra đã tạm giữ: 01 xe ô tô biển kiểm soát 88C- 164.11; 01 xe môtô biển kiểm soát 88S7- 7492; một số mảnh nhựa vỡ; 01 chiếc ô màu tím; 01 đôi dép tông; 01 chiếc áo phông màu đen cộc tay bị vò rách và 01 chiếc quần sóc màu xám có hai túi bên và một túi sau của Nguyễn Duy M; 01 chiếc áo phông cộc tay màu xanh đã được cắt một đường từ chân áo đến vai áo và 01 chiếc quần nỉ dài màu đen của Lê Anh T do anh Nguyễn Duy Ư, sinh năm 1989; trú tại thôn Đ, xã B, huyện V tự nguyện giao nộp. Đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của gia đình ông Trần Văn H, sinh năm 1969, trú tại thôn N, xã C, huyện V. Toàn bộ số đồ vật nêu trên được niêm phong theo quy định.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn thuộc Km41+700 quốc lộ 2A thuộc địa phận thôn N, xã C, huyện V, đoạn đường này thẳng không có chướng ngại vật, tầm nhìn không bị hạn chế, có một hướng đi thành phố V, một hướng đi thành phố V, mặt đường ướt, được đổ nhựa áp phan tương đối bằng phẳng rộng 11m, ở giữa tim đường là vạch sơn nét đứt màu vàng rộng 0,15m chạy dọc theo tuyến đường, chia tuyến đường thành hai chiều xe chạy. Tiếp giáp với mép đường bên phải theo chiều thành phố V đi thành phố V là lề đường đất rộng 2,50m, tiếp đến là cánh đồng thôn N, xã C, tiếp giáp với mép đường bên trái theo chiều thành phố V đi thành phố V là lề đường đất rộng 1,8m, tiếp đến là cánh đồng. Chọn chiều khám nghiệm theo chiều từ thành phố V đi thành phố V. Chọn mép đường bên phải theo chiều khám nghiệm làm mép đường chuẩn. Chọn cột mốc H7/41 nằm tại lề đường đất bên phải theo chiều khám nghiệm làm điểm mốc. Vết cày kích thước 0,7m x 0,02m, có chiều hướng từ thành phố V đi thành phố V ký hiệu là (1), đầu của (1) cách điểm mốc là 27,52m, đầu của (1) cách mép đường chuẩn là 4,20m, cuối của (1) cách mép đường chuẩn là 4,27m. Vết cày kích thước 4,24m x 0,03m có chiều hướng từ thành phố V đi thành phố ký hiệu là (2), đầu của (2) cách đầu (1) là 2,77m, đầu (2) cách mép đường chuẩn là 4,71m, cuối (2) nằm tại đầu bàn để chân người điều khiển bên trái xe mô tô biển kiểm soát: 88S7- 7492 tiếp xúc với mặt đường chuẩn là 5,15m. Xe mô tô biển kiểm soát: 88S7- 7492 nằm đổ nghiêng bên trái tại mặt đường ký hiệu là (3) đầu xe hướng ra mép đường bên trái theo chiều khám nghiệm, phần sau xe ra mép đường chuẩn, trục trước của (3) cách đầu (2) là 4,36m, trục sau của (3) cách mép đường chuẩn là 4,25m, trục trước của (3) cách mép đường chuẩn là 5,80m. Đám mảnh nhựa vỡ, ô màu tím, dép, tông kích thước 16m x 4,60m rơi rải rác tại mặt đường, tập trung chủ yếu ở phần đường bên phải theo chiều khám nghiệm ký hiệu là (4),tâm của (4) cách đầu (1) là 0,86m, tâm của (4) cách mép đường chuẩn là 4,84m. Vết sạt khô sạch bụi kích thước 7,02m x 0,36m có chiều hướng từ thành phố V đi thành phố V1 ký hiệu là (5), đầu của (5) cách đầu (1) là 5,57m, đầu của (5) cách mép đường chuẩn là 1,66m, cuối của (5) nằm tại vị trí tử thi tiếp xúc với mặt đường, cách mép đường chuẩn là 0,96m (vị trí gần nhất của cuối (5)). Mảnh xương còn bám dính máu đỏ tươi kích thước 0,07 x 0,04m mảnh xương này ký hiệu là (6), tâm của (6) cách đầu (5) là 0,15m, tâm của (6) cách mép đường chuẩn là 1,85m. Vết máu rê kích thuớc 6,50m x 0,12m có chiều hướng từ thành phố V đi thành phố V1 ký hiệu là (7), đầu của (7) cách đầu (5) là 0,63m, đầu (7) cách mép đường chuẩn là 1,99m, cuối của (7) là vũng máu được chảy ra từ tử thi dưới gầm xe ô tô biển kiểm soát 88C- 164.11 có kích thước vũng máu 1,20m x 1,80m, vị trí gần nhất của cuối (7) cách mép đường chuẩn 0,36m. Xe ô tô biển kiểm soát: 88C- 164.11 đỗ tại mặt đường ký hiệu là (8), đầu xe hướng đi thành phố V1, phần sau xe hướng đi thành phố V, trục sau bên phải của (8) cách đầu (5) là 4,20m và cách trục sau của (3) là 16,45m, trục sau bên phải của (8) cách mép đường chuẩn là 0,38m, trục trước bên phải của (8) cách mép đường chuẩn là 0,32m. Tổ chức tế bào não phát hiện trên mặt đường kích thước 0,25m x 0,10m ký hiệu là (9), (9) nằm phía dưới gầm xe ô tô biển kiểm soát: 88C- 164.11, tâm của (9) cách đầu (5) là 3,91m, tâm của (9) cách mép đường chuẩn là 1,65m. Tại phía dưới gầm xe ô tô biển kiểm soát: 88C- 164.11 phát hiện 01 tử thi là nam giới chết trong tư thế ngồi gập mặt vào người về phía trước, hai chân trong tư thế duỗi thẳng, hai gót chân cách nhau 0,31m. Tử thi này cắt tóc ngắn màu đen, trên người mặc áo phông cộc tay màu đen, dưới mặc quần sóc màu xám. Vị trí tử thi này ký hiệu là (10), đỉnh đầu của (10) cách mép đường chuẩn là 1,45m, gót chân trái cách trục trước bên trái của (8) là 0,20m và cách mép đường chuẩn là 1,76m, gót chân phải đến mép đường chuẩn là 1,62m, khuỷu tay phải cách mép đường chuẩn là 1,24m, khuỷu tay trái cách mép đường chuẩn là 1,06m.
*Kết quả khám nghiệm phương tiện:
- Đối với xe ô tô biển kiểm soát 88C-164.11; Loại phương tiện: ô tô tải (thùng kín), Nhãn hiệu KIA; Số loại: THACO FRONTIER K250- TK1; Màu sơn: Xanh; Năm sản xuất 2019; Nước sản xuất Việt Nam; Niên hạn sử dụng 2044; Đăng ký lần đầu ngày 26/4/2019, đăng kiểm có hiệu lực đến hết ngày 25/4/2021, đã cũ qua sử dụng, sau khi va chạm để lại các dấu vết mới như sau: Mặt ngoài cản trước phía trước đầu xe có vết trượt xước, kích thước: 33cm x 10cm, chiều hướng từ trước về sau, từ phải qua trái, vị trí thấp nhất cách mặt đất 70cm. Ốp nhựa cản trước đầu xe ở vị trí phía dưới bên trái có vết trượt sạch bụi chiều hướng từ trước về sau, kích thước: 40cm x 11cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 42cm. Mặt ngoài bên trái cản trước đầu xe và mặt ngoài cánh cửa bên trái có vết trượt xước sơn, chiều hướng từ trước về sau, kích thước: 70cm x 20cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 20cm. Mặt ngoài cánh cửa bên trái có vết trượt xước sơn, chiều hướng từ trước về sau, kích thước 11cm x 0,5cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 104cm. Mặt trước mõ nhịp, đầu nhíp gắn ở dưới gầm phía trước đầu xe có vết trượt sạch bụi, chiều hướng từ trước về sau, kích thước: 30cm x 12cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 35cm, trên dấu vết này có bám dính chất mô cơ. Mặt trước hệ thống đánh lái nằm dưới gầm xe có vết trượt sạch bụi, chiều hướng từ trước về sau, trên bề mặt có bám dính mẫu chất mô cơ, kích thước: 90cm x 05cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 23cm. Mặt ngoài ốp la zăng bánh trước bên trái có vết trượt sạch bụi đất chiều hướng theo chiều tịnh tiến của xe, kích thước: 08cm x 06cm, vị trí gần nhất cách chân van 15cm. Mặt ngoài má lốp phía trước bên trái có vết trượt sạch bụi, mài mòn cao su, chiều hướng theo chiều tịnh tiến của xe, kích thước: 15cm x 11cm, vị trí gần nhất cách chân van 11cm. Mặt ngoài góc thành thùng phía trước bên trái ở vị trí góc phía dưới bị cong vênh, móp méo, trên bề mặt có bám dính mẫu chất mô cơ và vết trượt sạch bụi chiều hướng từ trước về sau, kích thước: 13cm x 05cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 70cm. Mặt ngoài hai thanh kim loại bảo vệ thùng dầu bên trái có vết trượt sạch bụi đất, chiều hướng từ trước về sau, kích thước 130cm x 20cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 29cm. Mặt ngoài má lốp bánh sau bên trái có vết trượt bụi đất, mài mòn cao su, chiều hướng theo chiều tịnh tiến của xe, kích thước 16cm x 08cm, vị trí gần nhất cách chân van 13cm. Kiểm tra xung quanh toàn bộ xe phát hiện toàn bộ bề ngoài xe có bám dính nhiều bùn đất đã khô. Ngoài ra, không phát hiện dấu vết gì khác.
- Đối với xe mô tô, biển kiểm soát 88S7- 7492; Nhãn hiệu: YAMAHA; Số loại: SIRIUS; Màu sơn: Đỏ đen; Dung tích xi lanh: 110 cm3; Đăng ký lần đầu ngày 02/6/2008, đã cũ qua sử dụng, sau khi va chạm để lại các dấu vết mới như sau: Phát hiện chìa khóa để mở và tắt xe vẫn cắm ở ổ khóa. Toàn bộ ốp nhựa mặt nạ tay lái phía trước, cụm đèn chiếu sáng và cụm đèn xi nhan phía trước, mặt nạ phía trước bị dập vỡ, bung rời khỏi xe. Ốp nhựa mặt nạ nắp tay lái phía sau bị dập vỡ nhựa, kích thước: 15cm x 14cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 83cm. Cụm đồng hồ công tơ mét bị bung chốt hãm và được bám dính trên xe bởi các sợi dây điện. Hệ thống tay lái phía trước bị đẩy lệch theo chiều từ trước về sau. Mặt ngoài phía trước hộp dầu tay phanh bên phải có vết chà sát kim loại theo chiều từ trước về sau, kích thước: 05cm x 0,5cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 107cm. Mặt ngoài phía trước tay phanh bên phải có vết chà sát kim loại, trên bề mặt có bám dính chất bột màu xanh, chiều hướng từ trước về sau, kích thước: 16cm x 01cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 103cm. Mặt ngoài tay lái bên phải có bám dính chất bột màu xanh, kích thước 04cm x 02cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 100cm. Mặt ngoài phía trước đầu tay lái bên trái có vết chà sát cao su, chiều hướng từ trước về sau, kích thước: 03cm x 01cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 90cm. Bàn để chân bên trái người điều khiển bị đẩy lệch khỏi vị trí ban đầu 02cm theo chiều từ dưới lên trên, tại vị trí đầu bàn để chân này có vết mài mòn cao su, chà sát kim loại theo chiều từ trước về sau, kích thước: 04cm x 2,5cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 27cm. Mặt ngoài bên trái thanh nâng dắt xe có vết chà sát kim loại, chiều hướng từ trước về sau, kích thước: 23cm x 02cm, vị trí gần nhất của dấu vết nằm tại đầu thanh nâng dắt bên trái. Mặt lăn bánh trước có vết trượt sạch bụi mài mòn cao su, chiều hướng cùng chiều tịnh tiến của xe và bị trượt từ trái qua phải, kích thước 20cm x 05cm, vị trí gần nhất của dấu vết cách chân van 40cm theo chiều tịnh tiến của xe.
Ngày 31/3/2020, Công an huyện Vĩnh Tường đã sử dụng máy đo nồng độ cồn trong hơi thở nhãn hiệu ALCOSENSE- PRODIGV II, số ID: 858318, ngày hiệu chỉnh gần nhất là ngày 15/01/2020 để tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của anh Phùng Gia T. Kết quả trong hơi thở của anh T không có nồng độ cồn.
Ngày 31/3/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 219, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định pháp y về tử thi đối với Nguyễn Duy M. Ngày 03/4/2020 Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có kết luận giám định pháp y về tử thi số 36/TT kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Duy M là: Sốc đa chấn thương không hồi phục.
Ngày 31/3/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra các Quyết định trưng cầu giám định số 214, 216 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định nồng độ cồn trong mẫu máu thu trong cơ thể của anh Lê Anh T và tử thi Nguyễn Duy M. Ngày 07/4/2020 Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có các Kết luận giám định số: 705, 756/KLGĐ, kết luận:
- Mẫu chất lỏng màu nâu đỏ ghi là mẫu máu thu của tử thi Nguyễn Duy, sinh năm 1993, trú tại thôn Đồi, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc gửi đến giám định có cồn (Ethanol), nồng độ cồn (Ethanol) trong máu là 189,688mg/100ml.
- Trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ ghi là mẫu máu thu của Lê Anh T, sinh năm 1997, trú tại B, V, Vĩnh Phúc gửi giám định có cồn (Ethanol). Nồng độ cồn (Ethanol) trong mẫu gửi giám định là 131,629mg/100ml mẫu.
Ngày 31/03/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 217, trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định Chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu của Phùng Gia T. Ngày 04/4/2020 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có kết luận giám định số 711/KLGĐ kết luận: Không phát hiện thấy thành phần các chất ma túy thường gặp ( Morphine, Heroin, Methamphetamine, MDMA, Ketamine, Delta-9-tetrahydrocanabinol ) trong mẫu chất lỏng màu nâu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Phùng Gia T, sinh năm 1992, trú tại phường Đ- thành phố V-tỉnh Vĩnh Phúc gửi giám định.
Ngày 31/3/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra các Quyết định trưng cầu giám định số 213, 215 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định chất ma túy trong mẫu máu thu trong cơ thể của Lê Anh T và tử thi Nguyễn Duy M. Ngày 04 và 07/4/2020 Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có bản Kết luận giám định số: 710, 720/KLGĐ kết luận: Không phát hiện thành phần chất ma túy thường gặp (Morphine; Heroine; Methamphetamine; Ketamine; MDMA Delta- 9- tetrahydrocanabinol) trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ ghi là máu thu của Lê Anh T, sinh năm 1998, trú tại: Xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nguyễn Duy h, sinh năm 1993; trú tại: Xã B- huyện V- tỉnh Vĩnh Phúc gửi đến giám định.
Ngày 31/03/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 220, trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số và điện tử đối với đoạn video đã tạm giữ tại camera an ninh của gia đình anh Trần Văn H. Ngày 08/4/2020, Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định số 738/KLGĐ kết luận: Chụp được 04 ảnh người và phương tiện là mô tô xuất hiện trong tệp tin video gửi giám định. Ảnh chụp và mô tả đặc điểm được in vào Bản ảnh giám định (thể hiện tại ảnh 1, 2: Người và phương tiện xe mô tô xuất hiện trong đoạn video gửi giám định vào thời gian 09 giờ 09 phút 56 giây ngày 31/3/2020; ảnh 3 phóng to của ảnh 1,2 ghi nhận một người mặc áo ngắn tay màu xanh, quần tối màu, đầu không đội mũ bảo hiểm điều khiển xe mô tô màu đỏ - đen, chở theo phía sau 01 người mặc áo ngắn tay màu đen, quần ngắn trên gối tối màu, đầu không đội mũ bảo hiểm; người và phương tiện đang di chuyển). Tệp tin video gửi giám định được sao lưu sang 01 (một) đĩa DVD. Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) bản ảnh giám định, 01 (một) đĩa DVD có chữ ký của giám định viên.
Ngày 31/3/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 218 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định Hóa pháp lý đối với mẫu sơn màu xanh thu tại mặt ngoài cánh cửa xe bên trái xe ô tô biển kiểm soát 88C- 164.11 kí hiệu A1. Mẫu chất màu xanh bám dính trên bề mặt tay phanh bên phải xe mô tô biển kiểm soát 88S7- 7492 kí hiệu A2. Ngày 13/4/2020 Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định số: 782/KLGĐ kết luận: Mẫu chất màu xanh bám dính trên bề mặt tay phanh bên phải ghi thu của xe mô tô BKS: 88S7- 7492 của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định cùng loại với mẫu sơn màu xanh ghi thu tại mặt ngoài cánh cửa xe bên trái xe ô tô BKS: 88C-164.11 của mẫu ký hiệu A1 gửi làm mẫu so sánh.
Ngày 31/3/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra các Yêu cầu định giá tài sản số 87 và 88 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện V định giá xác định thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 88C- 164.11 và xe mô tô biển kiểm soát 88S7- 7492 sau khi tai nạn xảy ra. Ngày 01/4/2020, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện V có các Bản kết luận định giá tài sản số 47 và 48/KL-HĐĐGTTHS, kết luận:
* Tổng giá trị thiệt hại của chiếc xe ô tô biển kiểm soát: 88C- 164.11 là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
* Tổng giá trị thiệt hại của chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 88S7- 7492 là: 2.450.000đ (Hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Ngày 05/5/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 299, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định pháp y về thương tích đối với Lê Anh T nhưng T không đi giám định. Ngày 06/5/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiếp tục ra Quyết định dẫn giải người bị tố giác số 39, để đưa T đến Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc để giám định thương tích. Tuy nhiên T vẫn cương quyết từ chối giám định thương tích nên không đủ cơ sở xác định tổn hại sức khỏe của T.
Cơ quan điều tra đã thông báo các kết luận giám định và kết luận định giá nêu trên cho Lê Anh T, anh Phùng Gia T, ông Trần Văn Q và đại diện gia đình nạn nhân Nguyễn Duy M (là ông Nguyễn Duy D - bố M) biết. Tất cả đều đồng ý và không thắc mắc gì.
Trong quá trình điều tra, ngày 11/4/2020, Lê Anh T giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số No 260166008364 do Sở giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 14/6/2016 ghi tên Lê Anh T, sinh ngày 26/01/1998 và 01 Căn cước công dân số 026098003425 cấp ngày 30/3/3016 ghi tên Lê Anh T, sinh ngày 26/01/1998; 01 sổ hộ khẩu số 630327082 cấp ngày 16/3/2016 tên chủ hộ là Nguyễn Thị T, tại trang 3 có ghi Lê Anh T, sinh ngày 26/01/1998 (là con) và tại biên bản hỏi cung lập ngày 23/5/2020 T trình bày không xác định họ tên bố.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Uỷ ban nhân dân xã B, xác định: Tại sổ cấp giấy khai sinh quyển 3 từ tháng 5/1994 đến năm 1998 số thứ tự 11 có ghi Lê Anh T, sinh ngày 24/1/1998, họ tên mẹ là Nguyễn Thị T, họ tên bố là Lê Văn T; tại Giấy khai sinh số 11 quyển số 05 ngày 16/2/1998 có ghi Lê Anh T, sinh ngày 24/01/1998, họ tên mẹ là Nguyễn Thị T, họ tên bố là Lê Văn T. Do vậy, có đủ căn cứ chứng minh xác định: Lê Anh T, sinh ngày 24/01/1998 và Lê Anh T, sinh ngày 26/01/1998 có mẹ đẻ là Nguyễn Thị T, bố đẻ là Lê Văn T là cùng một người.
Tại Cáo trạng số 71/CT-VKSVT ngày 07/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đối với bị cáo T; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Anh T 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm.
Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Tường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, bị cáo khai nhận:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 31/3/2020, sau khi cùng nhau ăn sáng và uống rượu, Nguyễn Duy M mặc dù biết Lê Anh T đã sử dụng rượu (trong máu có nồng độ cồn là 131,629mg/100ml) nhưng M vẫn giao xe mô tô biển kiểm soát 88S7-7492, dung tích xi lanh 110cm3 cho T (là người có giấy phép lái xe mô tô theo quy định) điều khiển chở M đi đến thành phố V trả tiền hoa. T điều khiển xe đi trên đường Quốc lộ 2A theo hướng thành phố V đi thành phố V. Khi đến Km41+700, Quốc lộ 2A thuộc địa phận thôn N- xã C- huyện V, T đi lấn sang phần đường bên trái để vượt xe đi cùng chiều thì T phát hiện xe ô tô tải biển kiểm soát 88C-164.11 do Phùng Gia T điều khiển đang đi đúng phần đường, làn đường hướng ngược chiều đến. Do vượt xe không đảm bảo an toàn, không làm chủ tốc độ, khi phát hiện xe ô tô T điều khiển đi đến thì khoảng cách giữa hai xe đã quá gần nên T đạp mạnh phanh gấp làm xe mô tô bị đổ trượt trên mặt đường Quốc lộ 2A theo hướng từ xã C đi thành phố V, M ngã văng ra đường trượt vào gầm xe ô tô tải do anh T điều khiển rồi tử vong tại chỗ, T va đập vào thành thùng xe bên trái xe ô tô này bị thương phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc, còn xe mô tô, xe ô tô liên quan bị hư hỏng, tổng thiệt hại tài sản là 3.950.000đ (Ba triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).
Nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông nêu trên là do lỗi của cả Nguyễn Duy M và Lê Anh T. M biết rõ T vừa uống rượu nhưng vẫn giao xe mô tô cho T điều khiển - là hành vi bị nghiêm cấm. Cả M và T đều không đội mũ bảo hiểm, T điều khiển xe mô tô chở M ngồi sau tham gia giao thông khi trong hơi thở có nồng độ cồn là 131,629mg/100ml không chú ý quan sát, vượt xe cùng chiều không đảm bảo an toàn (không quan sát phía trước để xác định có chướng ngại vật hay không, điều khiển xe đi sang phần đường bên trái) dẫn đến xảy ra va chạm với xe ô tô đang đi đúng phần đường gây tai nạn giao thông. Hậu quả làm M chết và tài sản thiệt hại là 3.950.000đ đã vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ 2008 được sửa đổi bổ sung tại khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu, bia năm 2019; khoản 2, điểm a khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ năm 2008 là nguyên nhân chính trực tiếp gây ra vụ tai nạn giao thông nêu trên.
. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại Cơ quan điều tra, Kết luận giám định, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi của Lê Anh T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
…
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định…”
. Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông, do đó cần phải xử lý nghiêm bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
. Xét nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; gia đình bị cáo neo đơn, hoàn cảnh khó khăn, mẹ bị cáo ốm đau, bệnh tật; người bị hại cũng có lỗi một phần. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bản thân có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Do vậy có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với anh Phùng Gia T là người đã có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, khi điều khiển xe không sử dụng rượu, bia, chất kích thích, điều khiển xe đi đúng phần đường, làn đường theo quy định. Do Lê Anh T điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát, vượt xe khác không đảm bảo an toàn, đi không đúng phần đường tự gây tai nạn làm Nguyễn Duy M ngồi phía sau trượt ngã văng vào gầm xe ô tô tải do Tân điều khiển dẫn đến anh Mạnh tử vong. Đây là tình huống bất ngờ, nên anh T không thể xử lý kịp. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Phùng Gia T là phù hợp.
. Về trách nhiệm dân sự:
- Quá trình điều tra bị cáo T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 85.000.000đ (Tám lăm triệu đồng) gồm chi phí mai táng và tổn thất về tinh thần để khắc phục hậu quả. Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên, đồng thời không yêu cầu đề nghị gì khác. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
- Quá trình điều tra ông Trần Văn Q- chủ chiếc xe ô tô biển kiểm soát 88C- 164.11 đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình bị hại số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng), hỗ trợ tiền viện phí cho Lê Anh T số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng), đồng thời không yêu cầu đề nghị gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát 88C- 164.11, anh Trần Văn Q xin tự khắc phục hậu quả, không yêu cầu ai bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với hư hỏng của xe mô tô 88S7- 7492, đại diện gia đình bị hại xin tự khắc phục hậu quả không đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Trong vụ tai nạn trên, người bị hại anh Nguyễn Duy M cũng có một phần lỗi. Mặc dù biết T đã uống rượu cùng mình, trong máu hoặc hơi thở của T có nồng độ cồn nhưng anh M vẫn giao xe cho T điều khiển xe tham gia giao thông, cả anh M và bị cáo T đều không đội mũ bảo hiểm, hậu quả của vụ tai nạn giao thông làm tử vong chính bản thân anh M và gây thiệt hại tài sản của người khác có giá trị là 1.500.000đ. Do anh M đã tử vong nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
. Vật chứng của vụ án:
- Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 88C- 164.11 cùng giấy tờ xe đã tạm giữ, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Trần Văn Q, xe có đầy đủ giấy tờ theo quy định, ông Q đã có đơn xin lại tài sản. Ngày 17/4/2020, Công an huyện V đã trả chiếc xe ô tô cùng giấy tờ xe cho anh Q theo quy định. Sau khi nhận lại tài sản, ông Q không yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 giấy chứng minh nhân dân số 241282712 do Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 30/5/2008 mang tên Phùng Gia T và 01 giấy phép lái xe hạng B2, số AV896884 mang tên Phùng Gia T, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 04/9/2012, có giá trị đến ngày 04/9/2022 đã tạm giữ của anh Phùng Gia T, là tài sản hợp pháp của anh T, không liên quan đến việc giải quyết vụ án, anh T có đơn xin lại tài sản nên ngày 17/4/2020, Công an huyện V đã trả lại các giấy tờ trên cho anh T theo quy định. Anh T đã nhận đủ tài sản và không yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88S7- 7492 và giấy tờ xe, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của ông Nguyễn Duy D - bố đẻ anh M; giấy phép lái xe số AT406525 hạng A1 cấp ngày 14/11/2011 thuộc sở hữu của Nguyễn Duy M. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Duy D. Ông D đã nhận đủ tải sản và không yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 chiếc áo phông cộc tay màu xanh, 01 chiếc quần nỉ dài màu đen tạm giữ của Lê Anh T; 01 chiếc áo phông màu đen cộc tay bị vò rách và 01 chiếc quần soóc màu xám tạm giữ trong quá trình khám nghiệm tử thi Nguyễn Duy M; một số mảnh nhựa vỡ; 01 chiếc ô màu tím; 01 đôi dép tông; 01 tay phanh và toàn bộ bao gói là mẫu trả kèm kết luận giám định số 782 ngày 13/4/2020 và các mẫu hoàn loại sau giám định kèm theo các bản kết luận số 711 ngày 04/4/2020; 710, 720, 756 cùng ngày 07/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 260166008364, do Sở giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Phúc cấp, còn giá trị sử dụng mang tên Lê Anh T (lưu trong hồ sơ vụ án) cần trả lại cho T.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều Điều 65; Điều 41 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Lê Anh T: 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Anh T cho UBND xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc áo phông cộc tay màu xanh, 01 chiếc quần nỉ dài màu đen tạm giữ của Lê Anh T; 01 chiếc áo phông màu đen cộc tay bị vò rách và 01 chiếc quần soóc màu xám tạm giữ trong quá trình khám nghiệm tử thi Nguyễn Duy M; một số mảnh nhựa vỡ; 01 chiếc ô màu tím; 01 đôi dép tông; 01 tay phanh cùng toàn bộ bao gói là mẫu trả kèm kết luận giám định số 782 ngày 13/4/2020 và các mẫu hoàn loại sau giám định kèm theo các bản kết luận số 711 ngày 04/4/2020; 710, 720, 756 cùng ngày 07/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc.
- Trả lại cho Lê Anh T 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 260166008364, do Sở giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Phúc cấp.
Các vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Vĩnh Tường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường.
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lê Anh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án để đề nghị xét xử phúc thẩm. Người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
- Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
Đã ký
- VKSND huyện V;
- Phòng HS nghiệp vụ công an V;
- Chi cục THADS huyện V;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu HS, VP.
Hoàng Thị Quỳnh
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Khang
Nguyễn Văn Chung
Hoàng Thị Quỳnh
(được trừ 06 ngày tạm giữ. 01 ngày tạm giữ = 03 ngày tạm giam).
(được trừ 06 ngày tạm giữ. 01 ngày tạm giữ = 03 ngày tạm giam).
Tiếp tục tạm giam bị cáo Thỏa 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Vĩnh Tường; - Công an huyện Vĩnh Tường; - CQCSTHAHS-CA huyện Vĩnh Tường; - Thi hành án dân sự, hình sự; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Kim Văn Quang |