vanban.org

Bản án 75/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Hoài T về việc "Tranh chấp về ly hôn".

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị Hoài T và anh Lê Văn T. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Bùi Thị Hoài T phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn giữa chị Bùi Thị Hoài T và anh Lê Văn T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Hoài T về việc "Tranh chấp về ly hôn".
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 07-5-2020
V/v “Tranh chấp về ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châu Thị Kim Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Thêm;

2. Bà Võ Thị Hồng Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Yến, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Hồ Minh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2020, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 218/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2019 về việc "Tranh chấp về ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2020; Quyết định hoãn phiên toà số 15/2020/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2020; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa dân sự sơ thẩm số 18/2020/TB-TA ngày 31 tháng 3 năm 2020 và Thông báo mở lại phiên tòa dân sự sơ thẩm số 21/TB-TA ngày 23 tháng 4 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Hoài T, sinh năm 2000. Vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện P, thành phố C.

- Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1992. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện S, tỉnh Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/12/2019, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Bùi Thị Hoài T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Lê Văn T tự nguyện kết hôn vào ngày 30/5/2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, thành phố C. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống được 02 tháng thì xảy ra mâu thuẫn do không hợp nhau. Anh T bỏ về quê sinh sống nên vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 07 năm 2018 đến nay, hai bên thật sự không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin được ly hôn với anh Lê Văn T.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn anh Lê Văn T, trong quá trình giải quyết vụ án anh T không hợp tác, cố tình không đến Tòa án làm việc, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Vì vậy, anh T không có ý kiến về nội dung vụ án và vắng mặt tại phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn không có mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa là vi phạm quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Bùi Thị Hoài T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Bùi Thị Hoài T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn - anh Lê Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa.

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Bùi Thị Hoài T có quan hệ hôn nhân hợp pháp với anh Lê Văn T, địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện S, tỉnh Q. Nay, chị T khởi kiện xin ly hôn với anh T nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp về ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T tự nguyện kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã N, huyện P, thành phố C cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 62/2018 ngày 30 tháng 5 năm 2018. Quá trình giải quyết vụ án, chị T cho rằng vợ chồng chung sống không hạnh phúc do không hợp nhau. Anh T và chị T đã sống ly thân gần hai năm nay và không còn quan tâm đến nhau. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T đều vắng mặt, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật nên không có ý kiến về nội dung vụ án, không tham gia các phiên hòa giải theo các Thông báo của Tòa án. Tại phiên tòa, anh T tiếp tục vắng mặt không có lý do trong khi chị T có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn cương quyết xin ly hôn. Điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Bùi Thị Hoài T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Hoài T về việc "Tranh chấp về ly hôn".

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị Hoài T và anh Lê Văn T.

2. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Bùi Thị Hoài T phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007163 ngày 11/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ