- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Mỹ Chi - Trần Thị LOan, Quách Văn Nghỉ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Mỹ Ch về việc buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L (Đ), ông Quách Văn N có trách nhiệm thanh toán cho bà Trần Mỹ Ch tổng số tiền vốn vay còn thiếu là 20.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2020/DS-ST Ngày 25-6-2020 V/v tranh chấp HĐ vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Kim Nguyện
2. Ông Nguyễn Văn Chến
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thúy Kiều - Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 25 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 121/2020/TLST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 345/2020/QĐXXST-DS, ngày 27 tháng 5 n ăm 2020, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Mỹ Ch - sinh năm 1975.
Địa chỉ: Ấp 1, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N - sinh năm 1985
(có mặt).
Địa chỉ: Số 97C, đường B, khóm 5, phường 8, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị L (Đ)
(vắng mặt).
Ông Quách Văn N
(vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp 1, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Trần Mỹ Ch - Người đại diện theo ủy quyền anh Nguyễn Văn N trình bày:
Ngày 15/12/2019 âm lịch, bà Trần Mỹ Ch có cho vợ chồng ông Quách Văn N, bà Nguyễn Thị L (tên thường gọi: Đ) vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 1,2%/tháng/20.000.000 đồng. Việc bà Ch cho vợ chồng ông N, bà L vay tiền không có làm biên nhận, chỉ thỏa thuận bằng miệng.
Bà L, ông N vay tiền đề trang trang cuộc sống gia đình. Từ khi vay đến nay vợ chồng bà L, ông N chưa thanh toán cho bà Trần Mỹ Ch khoản tiền nào.
Do đó, bà Trần Mỹ Ch khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Quách Văn N, bà Nguyễn Thị L (tên thường gọi: Đ) trả cho bà Ch tổng số tiền vốn vay còn thiếu là 20.000.000 đồng, không yêu cầu lãi suất hoặc yêu cầu nào khác.
Đối với bị đơn ông Quách Văn N: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo, văn bản tố tụng cho ông N, nhưng ông N vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi Tòa án.
Bị đơn bà Nguyễn Thị L (tên thường gọi: Đ) trình bày tại Biên bản hòa giải, ngày 07/02/2020 hòa giải tại Trụ sở văn hóa, ấp 1, xã A, thành phố C: Bà Nguyễn Thị L thừa nhận có thiếu của bà Trần Mỹ Ch số tiền 20.000.000 đồng, nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả cho bà Ch mỗi tháng 500.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bị đơn ông Quách Văn N, bà Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, tiến hàng xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Nguyên đơn bà Trần Mỹ Ch khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Quách Văn N, bà Nguyễn Thị L (Tên thường gọi: Đ) trả lại cho bà Ch số tiền vốn vay còn thiếu là 20.000.000 đồng. Không yêu cầu lãi suất hoặc yêu cầu nào khác. Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:
Tại Biên bản hòa giải ngày 07 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở văn hóa, ấp 1, xã A, thành phố C, bà L thừa nhận có thiếu của bà Trần Mỹ Ch số tiền 20.000.000 đồng, nhưng do hoàn cảnh khó khăn (thiếu nợ nhiều người) nên xin trả cho bà Ch mỗi tháng 500.000 đồng. Do đó Hội đồng xét xử thấy việc bà Ch có cho bà Nguyễn Thị L vay số tiền 20.000.000 đồng là có thực tế xảy ra.
Bà Ch cho rằng , từ khi vay đến nay vợ chồng bà L, ông N chưa thanh toán cho bà Ch khoản tiền nào nên yêu cầu bà L, ông N trả cho bà Ch số tiền 20.000.000 đồng. Bà L, ông N nhận được thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng hợp lệ của Tòa án, biết được nội dung khởi kiện của bà Ch về việc buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 20.000.000 đồng, nhưng bà L và ông N không có Văn bản nêu ý kiến gửi Tòa án phản đối nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Ch, cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh việc ông N, bà L đã thanh toán khoản tiền còn thiếu cho bà Ch. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn là bà L, ông N thanh toán cho nguyên đơn là bà Ch tổng số tiền vốn vay còn thiếu là 20.000.000 đồng.
Nguyên đơn không đặt ra yêu cầu về lãi suất hoặc yêu cầu nào khác, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều: 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Mỹ Ch về việc buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L (Đ), ông Quách Văn N có trách nhiệm thanh toán cho bà Trần Mỹ Ch tổng số tiền vốn vay còn thiếu là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành xong khoản tiền trên, thì người phải thi hành án phải trả thêm khoản lãi theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Án phí dân sự sơ thẩm bà Trần Mỹ Ch không phải chịu. Ngày 01/4/2020, bà Ch có nộp tạm ứng án phí số tiền 500.000 đồng, theo Biên lai thu số 0001607 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cau Mau, được nhận lại.
Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị L (Đ), ông Quách Văn N, mỗi người phải nộp 500.000 đồng (chưa nộp).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các diiêù 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Hồng Thắm |