vanban.org

Bản án 75/2019/HSST — Hình sự

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đoàn Quyết Th (Tý) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất

luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt: Đoàn Quyết Th 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐOÀN QUYẾT Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Quyết Th (Tý) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2019/HSST
Ngày: 31/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Long

Nghề nghiệp: cán bộ

2. Bà Võ Thanh Nga

Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Cao Đăng Huy - cán bộ Tòa

án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Minh Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2019 tại Công viên Đinh Lễ (đường Lê Quốc

Hưng, Phường 12, Quận 4, TP. Hồ Chí Minh) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2019/HSST ngày 03 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: ĐOÀN QUYẾT Th; tên gọi khác: Tý, sinh ngày 06/11/1989

tại Đồng Nai; giới tính: Nam; nơi đăng ký NKTT: Ấp Tân Hữu, xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: nhà không số, đường số X, Khu phố Y, phường Z, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ sơn nước; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn K, sinh năm 1963 và bà Danh Thị P, sinh năm 1968; vợ: Phó Thị Thanh P, sinh năm 1988, con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 03/6/2019 “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ ngày 03/6/2019, Đoàn Quyết Th uống rượu, bia chung với 02 người bạn làm cùng công trình tên T và D (không rõ nhân thân, lai lịch) tại công trình xây dựng sau nhà số A đường B, Quận C. Sau đó, Th cùng T và D rủ nhau đi mua ma túy về sử dụng dụng chung, do lúc đó chỉ có T còn tiền nên T ứng trước 200.000 đồng để mua ma túy, khi nào có lương thì Th và D góp lại trả cho T. Th biết chổ bán ma túy nên nhận tiền của T đi mua. Th đi bộ về nhà không số, đường X, khu phố Y, phường Z, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh hỏi mượn xe Honda hiệu Wave, màu tím, biển số 59C2-561.28 của ông Nguyễn Văn P để đi mua đồ. Th điều khiển xe trên đến trước nhà số 91F Hoàng Diệu, Quận 4 gặp một người đàn ông (khoảng 40 tuổi, không rõ lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng ma túy và đưa tiền trước, người đàn ông này nhận tiền rồi đi một lúc quay ra đưa cho Th 01 gói nylon chứa ma túy. Sau khi mua ma túy xong, Th cất giấu vào trong túi quần phía trước bên trái của Th đang mặc rồi điều khiển xe về Quận 7 để sử dụng. Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/6/2019, khi đến trước nhà số 39 đường 41, phường 6, Quận 4, Thắng bị tổ tuần tra Công an Phường 6, Quận 4 cùng Đội CSĐTTP về Ma túy Công an Quận 4 nghi vấn kiểm tra thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Theo kết luận giám định số 1232/KLGĐ-H ngày 10/6/2019 của Phòng kỹ

thuật hình sự Công an TP. Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đoàn Quyết Th và hình dấu Công an Phường 6, Quận 4 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1393g, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Đoàn Quyết Th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của

mình như đã nêu trên. Đối với tên T, D và người đàn ông bán ma túy cho Th, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 4 không có căn cứ để điều tra xử lý.

Tại Cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 05/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân

Quận 4 đã truy tố bị cáo Đoàn Quyết Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Quyết Th khai nhận trong ngày 03/6/2019, bị

cáo đã thực hiện hành vi mua và cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 giữ quan điểm truy tố bị cáo

Đoàn Quyết Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù; phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng để thu nộp ngân sách nhà nước; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội

đúng như nội dung cáo trạng truy tố; Bị cáo rất ăn năn, hối hận vì đã phạm tội nên không có ý kiến tham gia tranh luận; Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ để sớm về với gia đình và sửa đổi làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 4,

Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù

hợp với nhau và còn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; bản Kết luận giám định số 1232/KLGĐ-H ngày 10/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/6/2019, tại trước nhà số 39 đường 41, Phường 6, Quận 4, tổ tuần tra Công an Phường 6, Quận 4 cùng Đội CSĐTTP về Ma túy Công an Quận 4 bắt quả tang Đoàn Quyết Th có hành vi cất giấu 0,1393g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc

quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn Quận 4. Để nghiêm trị hành vi trái pháp luật thực hiện do lỗi cố ý, đối với bị cáo cần có mức án nghiêm khắc tương ứng với tính chất vụ án và mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo để xử phạt. Tuy nhiên khi lượng hình có xem xét các tình tiết: tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đồng thời có bà nội, bác ruột là người có công với cách mạng để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Ngoài ra, cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015,

sửa đổi, bổ sung năm 2017 phạt tiền bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng để thu nộp ngân sách Nhà nước.

Xử lý vật chứng: 01 xe Honda hiệu Wawe, màu tím, biển số 59C2-

561.28, số máy HC09E5089418, số khung RLHHC09035Y051806 đã qua sử dụng. Qua xác minh, xe trên là của ông Nguyễn Văn Ph, ông Ph không biết Th sử dụng liên quan đén hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 4 đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Ph. Ông Ph nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không đề cập xử lý; 01 gói niêm phong ghi số vụ 1232 là ma túy của Th còn lại sau giám định. Đây là chất độc hại, không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy. (Theo biên bản giao nhận vật chứng đề ngày 09/9/2019 giữa Công an Quận 4 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4)

Về án phí: Bị cáo phải nộp số tiền là 200.000 nghìn đồng án phí hình

sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đoàn Quyết Th (Tý) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất

ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ

luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Đoàn Quyết Th 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03

tháng 6 năm 2019. Tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm thi hành án, thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung

năm 2017:

Phạt tiền Đoàn Quyết Th 5.000.000 (năm triệu) đồng để thu nộp ngân

sách nhà nước.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, hàng tháng người phải thi hành án

còn phải chịu thêm lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi số vụ 1232. (Theo biên bản giao

nhận vật chứng đề ngày 09/9/2019 giữa Công an Quận 4 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4)

- Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

năm 2015:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 (Hai trăm

nghìn) đồng.

Bị cáo được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ