- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Châu L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2019/HS-ST Ngày 19/11/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NNGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ánh Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Hữu Tâm
2. Ông Nguyễn Duy Khƣơng
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Th, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 71/2019/HS-ST ngày 28 tháng 10 năm 2019 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Châu L, sinh ngày 01/01/1994; Nơi cư trú: Đường C, Khu phố 3, Phường V, Thành phố G, tỉnh Kiên Giang; Trình độ văn hóa: 4/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Con ông Võ Văn H, sinh năm 1964 và bà Châu Thị S; sinh năm 1964.
Tiền án, tiền sự: không
Tuy nhiên, vào ngày 23/6/2011 bị cáo bị Ủy ban nhân dân Thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang ra quyết định xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng, về hành vi “Trộm cắp tài sản” và ngày 05/5/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử 09 chín tháng tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 19/8/2019
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Ông Trần Quốc N, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
Địa chỉ: đường C, phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Châu L là đối tượng nghiện ma túy để có ma túy sử dụng nên vào khoảng 03 giờ, ngày 19 tháng 8 năm 2019 L đi đến tiệm game bắn cá của anh T ở ấp PH, xã MT B, huyện CT, tỉnh KG. Tại đây L gặp một người đàn ông tên Th (không rõ nhân thân lai lịch), do biết Th có bán ma túy nên L hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá loại Methamphetamine để sử dụng, lúc này T1 đưa cho L 01 (một) bịch ma túy đá và L trả cho T1 500.000 đồng. Mua ma túy xong, L cất bịch ma túy vừa mua vào trong túi quần và đi về phòng trọ số 8, nhà trọ Đ thuộc ấp S, xã V Hiệp, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an huyện Châu Thành tiến hành kiểm tra phòng trọ của L và bắt quả tang L đang tàng trữ trái phép chất ma túy mà L đã mua của Th.
Tang vật thu giữ gồm 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín, có kích thước 03x2,2cm, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất, dạng rắn, màu trắng được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng.
Tại kết luận giám định số: 520/KL-KTHS ngày 22 tháng 8 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận: Nhiều hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất, dạng rắn, màu trắng chứa trong 01 bịch nylon có rãnh gài được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,5281 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Châu L đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ, hướng xử lý vật chứng gồm: 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín, có kích thước 03 cm x 2,2 cm, bên trong đều có chứa nhiều hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất, dạng rắn, màu trắng, nghi là chất ma túy, đã được niêm phong bên trong 01 phong bì màu trắng có chữ ký của điều tra viên Nguyễn Chí Linh, người bị bắt Châu L, người chứng kiến Trần Quốc N, ông Danh D - Trưởng Công an xã, có đóng 03 dấu mộc đỏ, hình tròn niêm phong của Công an xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Đây là vật chứng sau khi giám định còn lại.
Tại bản cáo trạng số: 73/CT- VKS- CT ngày 28/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Châu L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Châu L từ 15 đến 18 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng có dòng chữ Công an tỉnh Kiên Giang phòng Kỹ thuật hình sự, niêm phong mẫu vật, vụ số: 520 ngày 22/8/2019 người chứng kiến Nguyễn Văn Kha, giám định viên Lê Đức Huy.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu cũng như kết quả điều tra của Cơ quan điều tra và bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th. Từ đó, có đủ căn cứ để xác định: Châu L là đối tượng nghiện hút ma túy và để có ma túy sử dụng L liên hệ với đối tượng tên Th (không rỏ nhân thân lai lịch) để mua 500.000 đồng ma túy. Sau khi nhận được ma túy từ Th, L đem về cất giấu tại nhà trọ Đ thuộc ấp S, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an huyện Châu Thành tiến hành kiểm tra phòng trọ và bắt quả tang L đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Theo kết luận số: 520/KL-KTHS ngày 22 tháng 8 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang thì nhiều hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất, dạng rắn, màu trắng chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,5281 gam. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả của việc sử dụng chất ma túy sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe, kinh tế của chính bản thân người nghiện mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, làm mất an ninh trật tự xã hội và gây bất bình trong nhân dân. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, HĐXX xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, qua hồ sơ thể hiện vào năm 2011 bị cáo bị Ủy ban nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang ra quyết định xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng, về hành vi “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong; Đến năm 2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đã được xóa án tích nhưng cũng cần xem xét về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên việc am hiểu pháp luật còn hạn chế, do đó HĐXX xét thấy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
[6] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.
[7] Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì màu trắng có dòng chữ Công an tỉnh Kiên Giang phòng Kỹ thuật Hình sự, niêm phong mẫu vật, vụ số: 520 ngày 22/8/2019 người chứng kiến Nguyễn Văn Kha, giám định viên Lê Đức Huy, đây là số ma túy đã thu giữ sau giám còn lại và là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần xử tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[8] Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Châu L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Châu L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 19/8/2019.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng có dòng chữ Công an tỉnh Kiên Giang phòng Kỹ thuật Hình sự, niêm phong mẫu vật, vụ số 520 ngày 22/8/2019 người chứng kiến Nguyễn Văn Kha, giám định viên Lê Đức Huy. Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 45/QĐ-VKSCT ngày 28/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Về áp phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Điều 23 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Châu L phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Châu Th; - Công An huyện Châu Th; - Chi cục THADS huyện Châu Th; - Bị cáo; - Lưu. | Huỳnh Ánh Tuyết |