vanban.org

Bản án 75/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho L hôn giữa chị Lưu Thị L và anh Đào Xuân H.

Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí L hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số AA/2017/0003911 ngày 02/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L. Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa được biết, có quyền kháng cáo bản án trong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị L, anh H ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho L hôn giữa chị Lưu Thị L và anh Đào Xuân H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 24-7-2019
V/v L hôn giữa chị L và anh H

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Thu Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị yến;

2. Bà Đỗ Thị Hoài Mơ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 191/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp L hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2019/QĐXX-ST ngày 10 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lưu Thị L, sinh năm 1967 “có mặt”

Bị đơn: Anh Đào Xuân H, sinh năm 1968 “vắng mặt”

Địa chỉ cư trú: Thôn N 2, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/3/2019, các lời khai và diễn biến tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lưu Thị L trình bày: Chị và anh Đào Xuân H đăng ký kết hôn năm 1989 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện. Sau khi cưới chị về chung sống cùng anh H ngay. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Từ những năm 1992 vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H thường xuyên uống rượu say về đánh chửi chị nhưng khi đó các con còn nhỏ nên chị chấp nhận. Nay vợ chồng chị không còn tình cảm và đã sống L thân. Do vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được L hôn.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống giữa chị và anh H có 02 con chung là Đào Xuân Thịnh, sinh năm 1990 và Đào Thị Ánh, sinh năm 1993. Các cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường và đã trưởng thành nên chị không đề nghị gải quyết.

Về tài sản, công nợ: Vợ chồng chị tự thỏa thuận không yêu cầu gải quyết.

Tại biên bản lấy lời ngày 16/4/2019 bị đơn, anh Đào Xuân H trình bày: Về thời gian đăng ký kết hôn và quá trình chung sống như chị L trình bày là đúng. Từ năm 1992 vợ chồng anh đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và làm ăn kinh tế. Nay không còn chung sống cùng nhau, cắt đứt quan hệ tình cảm và kinh tế. Tuy nhiên chị L xin L hôn anh không muốn L hôn vì không muốn làm xáo trộn cuộc sống của các con.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung như chị L trình bày là đúng, các cháu đã trưởng thành anh không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản và công nợ: Anh không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, chị L chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, anh H đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, các Điều 147, 227, 228, 271, 272 và 273 BLTTDS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử cho chị L được L hôn anh H.

Về con chung, tài sản, công nợ các được sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Ngoài ra còn đề xuất về án phí và quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho các đương sự, anh H vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của BLTTDS xét xử vắng anh H.

Về quan hệ hôn nhân: Lưu Thị L và anh Đào Xuân H đăng ký kết hôn năm 1989 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện nên hôn nhân giữa chị L và anh H là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên chị L và anh H đã sống L thân, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cắt đứt quan hệ tình cảm và kinh tế. Nay chị L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được nên chị khởi kiện xin L hôn anh H. Quá trình giải quyết vụ án anh H cũng xác định vợ chồng mâu thuẫn từ năm 1992 và đã sống L thân. Điều đó chứng tỏ cuộc sống vợ chồng giữa chị L và anh H đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị L được L hôn anh H.

Về con chung, tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí L hôn sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 227, 228; khoản 4 Điều 147, 271, 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho L hôn giữa chị Lưu Thị L và anh Đào Xuân H.

2. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí L hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số AA/2017/0003911 ngày 02/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L.

Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa được biết, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa biết, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ