vanban.org

Bản án 75/2019/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 20/11/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Trần Đ nh Đ, ch Phan Th T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Đ nh Đ, ch Phan Th T về việc yêu cầu anh Hoàng Văn V, ch Trần Th M trả lại diện tích đất theo kết quả đ đạc thực tế 8136,4m2 đ a chỉ tại thôn O, x N, th x G, tỉnh Đăk Nông. Về án phí: Buộc anh Trần Đ nh Đ, ch Phan Th T phải ch u 300.000đ (ba … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Trần Đình Đ - Hoàng Văn V"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Trần Đ nh Đ, ch Phan Th T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐĂK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2019/DS-PT
Ngày 20-11-2019
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Th m ph n – Ch to phi n toà: Ông Nguyễn Văn Thuyên

Các Th m ph n: Ông Nguyễn Xuân Chiến và ông Nguyễn Tài Sử

- Thư ký phiên toà: Bà Trương Th Diễm My – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đăk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên tòa: Ông Dương Phúc Trư ng – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2019/TLPT-DS ngày 25 tháng 9 năm 2019 về tranh chấp quyền sử dụng đất;

Do bản án dân sự sơ thẩm số 17/2019/DS-ST ngày 09-8-2019 của Toà án nhân dân th x Gia Ngh a, tỉnh Đăk Nông b kháng cáo.

Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 93/2019/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Đ nh Đ, ch Phan Th T; đ a chỉ: Thôn O, x N, th x G, tỉnh Đăk Nông - C mặt.

Ngư i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Phan Văn C – Văn phòng luật sư Phan Anh C thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đăk Nông; đ a chỉ: Đư ng V, tổ B, phư ng T, th x G, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt (Nguyên đơn từ chối luật sư tham gia tố tụng tại phiên tòa).

- B đơn: Anh Hoàng Văn V, ch Trần Th M; đ a chỉ: Thôn O, x N, th x G, tỉnh Đăk Nông – Anh V c mặt, ch M c đơn xin xét xử vắng mặt.

- Ngư i c quyền lợi, ngh a vụ liên quan: Anh Đinh Văn T; đ a chỉ: đư ng D1, khu dân cư S, phư ng P, th x H, tỉnh B nh Dương – Vắng mặt.

- Những ngư i làm chứng:

Anh Đ Đ nh C, anh Nguyễn Văn L; đ a chỉ: phư ng T, th x G, tỉnh Đăk Nông.

Anh Nguyễn Gia T; đ a chỉ: Thôn U, x N, th x G, tỉnh Đăk Nông.

Anh Nguyễn Ng c M, anh Phan Ng c A, anh Trần Văn T, anh V Văn C, anh Lê Viết M; c ng đ a chỉ: Thôn O, x N, th x G, tỉnh Đăk Nông.

Tất cả những ngư i làm chứng nêu trên đều vắng mặt.

Anh Nguyễn Văn C, đ a chỉ: Thôn O, x N, th x G, tỉnh Đăk Nông – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trình bày c a nguy n đơn anh Trần Đình Đ, chị Phan Thị T: Phần đất đang tranh chấp nằm trong diện tích 02 ha do anh Đ khai hoang năm 1996 và được Sở đ a chính tỉnh K (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đứng tên ch Phan Th T, thửa số 77, t bản đồ số 21, diện tích 11840m2, cấp ngày 06/11/2002 và cấp đổi lại giấy số U039268 ngày 19/8/2003 đứng tên hộ ông Trần Đ nh Đ. Đất khai hoang thuộc quản lý của Lâm trư ng N nên ngày 25/8/1996 anh Đ làm đơn xin cấp đất trồng cây công nghiệp, thửa đất c tứ cận: phía Đông giáp anh L, phía Nam giáp đư ng be, phía Tây giáp rẫy anh Đinh Văn T, phía Bắc giáp s nh, đơn được Uỷ ban nhân dân x N xác nhận ngày 30/12/1996, được Lâm trư ng N xác nhận ngày 25/8/1996. Anh T là ngư i c đất giáp ranh với thửa đất trên của anh Đ và sử dụng đất từ năm 1998 đến khoảng đầu năm 2004 th chuyển nhượng cho anh Hoàng Văn V và ch Trần Th M. Khi anh V tiến hành canh tác, anh Đ hỏi đất anh T bán đến đâu thì anh V nói anh T bán đến hết phần đất đang tranh chấp, nếu đất anh T bán nằm trong giấy chứng nhận cấp cho anh Đ thì anh V sẽ trả lại, còn nếu anh Đ bán thì anh V sẽ mua. Lúc này giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh Đ đang cầm cố để vay tiền nên không c để đối chiếu. Năm 2007 anh V trồng cây cao su trên đất tranh chấp, anh Đ yêu cầu không được trồng v chưa xác đ nh được ranh giới r ràng, nhưng anh V vẫn sử dụng đất và cho rằng đất anh T chuyển nhượng đến ranh giới hợp thủy (khe nước). Năm 2016 anh Đ lấy được giấy chứng nhận th phát hiện đất thực tế b thiếu so với giấy chứng nhận. Anh Đ xác đ nh phần đất b thiếu đang do anh V, ch M sử dụng trồng sầu riêng và một số cây trồng khác. Anh Đ, ch T khởi kiện yêu cầu anh V, ch M trả diện tích đất theo kết quả đo đạc là 8136,4m2 và đồng ý hoàn trả giá tr các loại cây trồng trên đất theo kết quả đ nh giá cho anh V, ch M.

Bị đơn anh Hoàng Văn V, chị Trần Thị M trình bày: Diện tích đất đang tranh chấp nằm trong diện tích khoảng 03 ha anh nhận chuyển nhượng của anh Đinh Văn T năm 2004, trong đ c 12030m2 đ được cấp giấy chứng nhận (đất thuộc thửa 75, t bản đồ số 2, giấy chứng nhận số U001734, cấp ngày 25/11/2003 đứng tên anh T), trên đất đ trồng cà phê và tiêu, phần đất còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhưng trên đất c một số cây cà phê nhỏ xen lẫn với cây lồ ô. Tại th i điểm chuyển nhượng, anh T c làm giấy t mua bán viết tay, c chữ ký của các bên. Khi giao đất anh T chỉ ranh giới giáp đất anh Đ là khe nước chảy tự nhiên (thư ng g i là hợp thủy), c anh Nguyễn Văn C đi c ng và chứng kiến. Khi đến canh tác anh V phát d n đất đến sát mép khe nước để trồng cây điều, năm 2006 anh phá cây điều để trồng cây cao su. Quá tr nh sử dụng đất, anh V và anh Đ c ng sử dụng chung khe nước, không mâu thuẫn hoặc tranh chấp g .

Năm 2008, cơ quan c thẩm quyền cho phép kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh Đ sang nhà anh V và n i giấy chứng nhận QSD đất cấp năm 2003 cho gia đ nh anh Đ đ cấp nhầm sang một phần đất của anh V, phần đất còn lại phía trên th chưa được cấp. Sau đ anh V đến Uỷ ban nhân dân xã N hỏi th cán bộ đ a chính trả l i là c sự nhầm lẫn nên cấp nhầm. Lúc này anh Đ đang cầm cố giấy chứng nhận QSD đất để vay tiền nên hai bên thống nhất đất trên thực tế của ai th ngư i đ sử dụng, khi nào anh Đ lấy được giấy chứng nhận QSD đất về th c ng đi chỉnh sửa. Từ đ , anh V tiếp tục sử dụng đất trồng cây cao su. Năm 2014 anh V chặt cây cao su để trồng cây sầu riêng. C ng th i điểm này anh V và anh Đ thống nhất thuê xe của anh Đ Đ nh C múc lại ranh giới là khe nước để sử dụng chung. Sau khi múc, anh V trồng cây sầu riêng đến sát mép khe nước, hai bên sử dụng chung ranh giới với thái độ thân thiện, không xảy ra tranh chấp. Tháng 3/2016, anh Đ lấy được giấy chứng nhận QSD đất, anh Đ n i muốn điều chỉnh lại giấy th anh V phải trả chi phí trước đây anh Đ làm thủ tục cấp giấy với số tiền 4.000.000đ, tương đương gần 01 cây vàng. Anh V không đồng ý nên mới xảy ra tranh chấp. Nay anh Đ khởi kiện yêu cầu trả đất, anh V, ch M không chấp nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan anh Đinh Văn T trình bày:

Năm 1998 đến năm 2004 anh T quản lý, sử dụng diện tích đất khoảng 03 ha. Nguồn gốc đất là do anh nhận chuyển nhượng và khai hoang. Anh Đ, ch T là ngư i c đất giáp ranh, ranh mốc giữa hai thửa đất là khe nước chảy tự nhiên (thư ng g i là hợp thủy). Quá tr nh canh tác hai bên c ng sử dụng khe nước, không tranh chấp. Khoảng tháng 8/2003 anh biết anh Đ kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận QSD nhưng không biết được cấp bao nhiêu diện tích. Tháng 11/2003 anh T kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận, ngày 25/11/2003 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U001734, đất thuộc thửa số 75, t bản đồ số 21, diện tích 12030m2. Đầu năm 2004 do không c tiền đầu tư nên anh chỉ chăm s c cây cối trên phần đất đ được cấp giấy chứng nhận QSD, phần còn lại anh không chăm s c, phát d n nên các cây dây leo, cây lồ ô tự m c. Tháng 11/2004 anh T chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho anh V, ch M. Tại th i điểm chuyển nhượng và giao đất, anh T không biết diện tích đất đang tranh chấp đ được cấp giấy chứng nhận QSD cho anh Đ. Diện tích đất này anh T quản lý, sử dụng ổn đ nh, liên tục từ trước khi anh Đ, ch T được cấp giấy chứng nhận QSD (trước ngày 06/11/2002) và cấp đổi lại ngày 19/8/2003. Trong vụ án này anh T không c yêu cầu g và từ chối tham gia tố tụng.

Người làm chứng anh Đỗ Đình C trình bày: Ngày 31/8/2014, anh Đ và anh V thuê anh múc vét lại khe nước giữa đất anh Đ và đất anh V bằng máy múc. Khe nước là r nh nước chảy tự nhiên đ c từ trước và là ranh giới hai thửa đất. Phần đất anh V sử dụng trồng cây cao su, còn phần đất anh Đ sử dụng trồng tiêu. Trong quá tr nh múc, anh Đ và anh V n i chuyện với nhau b nh thư ng, không c mâu thuẫn hay tranh chấp g . Anh Đ ngồi trên xe và hướng dẫn anh múc ranh từ đoạn giữa đến đoạn cuối rẫy (giáp s nh) của hai bên. Ngoài ra anh C còn xác nhận khe nước giữa hai thửa đất hiện nay không thay đổi so với th i điểm múc vét.

Những người làm chứng anh Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Gia T, anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Ngọc M, anh Phan Ngọc A, anh Trần Văn T, anh Võ Văn C, anh L Viết M đều c l i khai xác nhận trên phần đất anh V, ch M sử dụng th trồng cây cao su, còn phần đất anh Đ, ch T sử dụng th trồng tiêu. Hai bên sử dụng chung r nh nước chảy tự nhiên từ năm 2004 cho đến trước năm 2016 th mới phát sinh tranh chấp.

Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2019/DS-ST ngày 09-8-2019 của Toà án nhân dân th x Gia Ngh a, tỉnh Đăk Nông quyết đ nh:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Đ nh Đ, ch Phan Th T về việc yêu cầu anh Hoàng Văn V, ch Trần Th M trả lại diện tích đất theo kết quả đ đạc thực tế 8136,4m2.

Ngoài ra, Hội đồng xét xử Toà án cấp sơ thẩm còn quyết đ nh về chi phí tố tụng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 23-8-2019, nguyên đơn anh Trần Đ nh Đ, ch Phan Th T c đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 17/2019/DS-ST ngày 09-8-2019 của Toà án nhân dân th x Gia Ngh a, đề ngh Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; b đơn đề ngh Tòa án giải quyết theo quy đ nh pháp luật.

Đ i diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Đăk Nông ph t biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Các Thẩm phán, Thư ký phiên toà và những ngư i tham gia tố tụng trong quá tr nh giải quyết vụ án đều tuân thủ đúng quyền, ngh a vụ của m nh theo quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề ngh HĐXX phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc b đơn phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 7052m2 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U039268 diện tích 11.840m2, t bản đồ số 21, thửa đất số 77 cấp ngày 19-8-2003 đứng tên anh Trần Đ nh Đ.

Sau khi nghi n cứu c c tài liệu có trong hồ sơ vụ n được th m tra t i phi n toà và căn cứ vào kết quả tranh Tụng t i phi n toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

. Về thời h n kháng cáo: Ngày 23-8-2019, nguyên đơn kháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm số 17/2019/DS-ST ngày 09-8-2019 của Toà án nhân dân th x Gia Ngh a là trong th i hạn kháng cáo, đ nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo là hợp lệ, đúng quy đ nh pháp luật.

. Về th m quyền giải quyết: Nguyên đơn kháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân th x Gia Ngh a (Toà án cấp sơ thẩm), nên việc thụ lý giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông (Toà án cấp phúc thẩm) là đúng quy đ nh pháp luật.

. Về nội dung kháng cáo:

. Tại đơn xin cấp đất ngày 25/8/1996 của anh Trần Đ nh Đ có xác nhận của UBND x N và Lâm trư ng N (BL 146) thì diện tích đất xin cấp là 02 ha, tứ cận: Phía Đông giáp anh L, phía Nam giáp đư ng be, phía Tây giáp rẫy anh T, phía Bác giáp sình. Ngoài đơn này th anh Đ, ch T không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nguồn gốc sử dụng đất của m nh. Theo kết quả đo đạc hiện trạng th diện tích đất thực tế anh Đ, ch T đang sử dụng là 19877m2. Căn cứ công văn số 1349/UBND-TNMT ngày 07-8-2019 của UBND th x G và công văn số 762/CV-VPĐKĐĐ ngày 02-8-2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai th x G th c căn cứ xác đ nh việc sử dụng đất thực tế hiện nay của anh Đ, ch T là ph hợp với đơn xin cấp đất nêu trên. Tổng diện tích đất anh Đ, ch T được cấp theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 26788m2 (trong đ thửa số 77 c diện tích 11840m2; thửa số 79 c diện tích 1760m2; thửa số 80 c diện tích 13188m2) chưa đúng thực tế sử dụng.

. L i khai của anh Đinh Văn T xác nhận ranh giới giữ diện tích đất anh chuyển nhượng cho anh V và diện tích đất của anh Đ là khe nước. L i khai này là ph hợp với v trí, tứ cận của thửa đất tại đơn xin cấp đất ngày 25/8/1996 của anh Đ. Như vậy, c căn cứ xác đ nh tại th i điểm anh T sử dụng đất, anh T và anh Đ đ xác đ nh ranh giới là khe nước một cách r ràng và sử dụng ranh giới này ổn đ nh trong một th i gian dài, không c tranh chấp. Phần đất tranh chấp anh T trực tiếp quản lý, sử dụng ổn đ nh, liên tục năm 1998 đến năm 2004.

. Theo kết quả đo đạc hiện trạng th diện tích đất thực tế anh V, ch M đang sử dụng là 29413m2 (bao gồm cả diện tích 8136,4m2 đang tranh chấp); trong khi đ theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất th diện tích đất anh V, ch M được cấp là 25060m2; như vậy anh V, ch M sử dụng dư 4353m2 so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp nhưng tương đương với diện tích khoảng 03 ha nhận chuyển nhượng của anh T vào năm 2014 (theo l i khai của anh V, ch M).

. L i khai của anh T xác đ nh khi chuyển nhượng th diện tích đất chuyển nhượng giáp đất anh Đ, ch T, ranh giới là khe nước (hợp thủy), trong đ có 12030m2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần còn lại cây lồ ô tự m c. L i khai của anh V, ch M ph hợp với l i khai của anh T nên c căn cứ xác đ nh nguồn gốc đất tranh chấp là do anh V, ch M nhận chuyển nhượng của anh T với diện tích 03 ha.

Vào năm 2014 anh V và anh Đ c ng thuê ngư i múc rộng khe nước, sau khi múc anh V trồng sầu riêng, bơ mít trên phần đất đang tranh chấp. Anh Đ thì xác nhận hiện tại khe nước vẫn còn tồn tại, trên đất tranh chấp c cây sầu riêng và một số cây trồng khác do anh V, ch M trồng. Anh T c l i khai xác nhận ranh giới hiện tại giữa đất anh V và anh Đ là đúng ranh giới mà anh T và anh Đ sử dụng trước đây.

L i tr nh bày của các đương sự ph hợp với l i khai của những ngư i làm chứng là hai bên sử dụng đất đúng ranh giới trong th i gian dài cho đến năm 2016 mới phát sinh tranh chấp. L i khai của anh V cũng ph hợp với l i tr nh bày của anh Đ Đ nh C là ngư i mà anh Đ, anh V thuê múc nạo vét lại ranh giới, anh C xác nhận ranh giới giữa hai thửa đất năm 2014 và hiện nay không thay đổi.

. Theo kết quả lồng ghép th diện tích đất đang tranh chấp 8136,4m2 được chia tương ứng 7052m2 + 990.4m2 + 94m2, trong đ c 7052m2 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U039268 đứng tên hộ anh Trần Đ nh Đ c diện tích 11840m2, diện tích còn lại 990.4m2 + 94m2 = 1084.4m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất c cây sầu riêng và các loại cây khác do anh V trồng và đ được đ nh giá.

. Tại biên bản làm việc ngày 23/5/2019 th Ủy ban nhân dân x N, th xã G xác nhận tại th i điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 11840m2 cho ch T, anh Đ thì UBND xã N không biết ai là ngư i sử dụng đất trên thực tế v chỉ xét duyệt cấp đất theo đơn kê khai của ngư i sử dụng đất.

. Từ những căn cứ trên xác đ nh được đất tranh chấp do anh T quản lý, sử dụng ổn đ nh, liên tục từ năm 1998 đến năm 2004 th chuyển nhượng lại cho anh V, ch M. Khi anh Đ đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận diện tích 11840m2 anh T không biết. Do vậy đất tranh chấp c diện tích 7052m2 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U039268, t bản đồ số 21, thửa số 77, cấp ngày 19/8/2003 cho hộ anh Trần Đ nh Đ b cấp chồng lên diện tích đất mà anh T đang quản lý, sử dụng tại th i điểm cấp. Diện tích đất này anh T đ chuyển nhượng cho anh V, ch M. Anh V, ch M sử dụng đất này ổn đ nh trong th i gian dài, những hộ gia đ nh sinh sống xung quanh, kể cả anh Đ, ch T đều biết, không tranh chấp.

Mặc d việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/11/2002 và cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U039268 ngày 19/8/2003 đứng tên hộ anh Trần Đ nh Đ là đúng quy đ nh của pháp luật đất đai tại th i điểm cấp. Tuy nhiên do anh Đ, ch T kê khai không đúng v trí, diện tích đất sử dụng nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ anh Đ là c sự sai lệch về kích thước và diện tích. V vậy, không c căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đ, ch T yêu cầu anh V, ch M trả lại diện tích đất 8.136,4m2.

. Về n phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn anh Trần Đ nh Đ, ch Phan Th T phải ch u án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền đ nộp tạm ứng án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 của Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thư ng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Trần Đ nh Đ, ch Phan Th T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Đ nh Đ, ch Phan Th T về việc yêu cầu anh Hoàng Văn V, ch Trần Th M trả lại diện tích đất theo kết quả đ đạc thực tế 8136,4m2 đ a chỉ tại thôn O, x N, th x G, tỉnh Đăk Nông.

2. Về án phí: Buộc anh Trần Đ nh Đ, ch Phan Th T phải ch u 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền đ nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001243 ngày 27-8-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự th x G, tỉnh Đăk Nông.

Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ