- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Tô Quang T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Tô Quang T phạm t i "Tàng trữ trái phép ch t ma t y".
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2018/HSST Ngày: 13/11/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Hợp
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nông Văn Vụ
2. Ông Luân Văn Lý
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Nha - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2018/HSST ngày 18 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2018/QĐXXST-HS ngày 01/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: TÔ QUANG T, tên gọi khác: không; sinh ngày 15/07/1985; nơi sinh: thành phố C, tỉnh Cao Bằng; h khẩu thư ng tr : tổ T, phư ng H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; dân t c: tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không nghề; trình đ học v n: 12/12 phổ thông; con ông: Tô Quang T, sinh năm: 1950; con bà: Trần Thị Kim M, sinh năm: 1951, đều tr tại: tổ T, phư ng H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; anh, chị, em ru t: không; vợ: Nông Thị V, sinh năm: 1989, h khẩu thư ng tr : tổ T, phư ng H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: y tá Bệnh viện tỉnh Cao Bằng; con: có 01 con sinh năm 2010, tr tại: tổ T, phư ng H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; tiền sự: không; tiền án: không.
Nhân thân: năm 2004 Công an quận Cầu Gi y, thành phố Hà N i ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích.
Bị cáo bị bắt ngày 08/7/2018, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân nghiện ma t y nên khoảng 13 gi ngày 07 tháng 7 năm 2018, Tô Quang T đi từ nhà ra Bến xe khách thành phố C mua với m t ngư i đàn ông khoảng 35 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng chẵn) để sử dụng. Khi về nhà, T đã l y m t ít sử dụng, số Heroine còn lại chia thành 02 gói nhỏ đem c t d u để sử dụng dần.
Đến 15 gi ngày 08 tháng 7 năm 2018, Công an phư ng Hợp Giang đến kiểm tra hành chính; phát hiện, thu giữ 01 gói Heroine gói bằng gi y bạc màu vàng ở dưới bàn kính tại phòng khách, sau đó T tự giác giao n p 01 gói Heroine gói bằng gi y bạc màu trắng c t gi u trong kho. Công an đã tiến hành lập biên bản niêm phong thu giữ hai gói Heroine, 01 b dụng cụ sử dụng ma t y, 01 điện thoại di đ ng màu đen nhãn hiệu Philip đã qua sử dụng theo đ ng quy định của pháp luật. 18h cùng ngày, Công an phư ng Hợp Giang, thành phố Cao Bằng giao toàn b hồ sơ vụ án đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng để xử lý theo thẩm quyền.
Ngày 18 tháng 7 năm 2018, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định ch t ma t y số 107. Tại bản kết luận giám định số 156/GĐMT ngày 26 tháng 7 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: mẫu ch t b t màu trắng gửi giám định là ma t y, loại Heroine.
Hành vi của Tô Quang T đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố về t i Tàng trữ trái phép ch t ma t y theo quy định tại khoản 1 Điều 249 B luật hình sự.
Tại bản Cáo trạng số 76/CT-VKSTP ngày 17/10/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Tô Quang T về t i Tàng trữ trái phép ch t ma t y theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm t i như n i dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Nh t trí với trọng lượng ma t y bị thu giữ và kết luận giám định số 156/GĐMT ngày 26 tháng 7 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng cũng như các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị H i đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, tuyên bố bị cáo phạm t i "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 (mư i tám) đến 24 (hai mươi tư) tháng tù, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số Heroine và dụng cụ sử dụng ma t y bị thu giữ. Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di đ ng hiệu PHILIPS vì không liên quan đến hành vi phạm t i.
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; khi nói l i sau cùng, bị cáo đề nghị H i đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bố là thương binh nặng, xem xét các tình tiết giảm nhẹ để bị cáo được hưởng mức án nhẹ nh t.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận th y :
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về t i danh: Tại phiên tòa bị cáo Tô Quang T đã khai nhận về hành vi phạm t i của mình phù hợp với l i khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt ngư i phạm t i quả tang, Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Có đủ căn cứ kết luận: do nghiện ma t y nên khoảng 13 gi ngày 07 tháng 7 năm 2018, Tô Quang T mua 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng về sử dụng, số Heroine còn lại chia thành 02 gói nhỏ (01 gói được gói bằng gi y bạc màu vàng c t gi u dưới gầm bàn kính tại phòng khách; 01 gói được gói bằng gi y bạc màu trắng c t d u trong nhà kho) để sử dụng dần. Đến 15 gi ngày 08 tháng 7 năm 2018 T bị Công an phư ng Hợp Giang phát hiện thu giữ gói Heroine ở dưới bàn kính tại phòng khách và tự giác giao n p gói Heroine c t gi u trong nhà kho.
Bị cáo nhận thức được tác hại của ch t ma t y, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép ch t ma t y là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma t y để sử dụng, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Tô Quang T đã đủ các yếu tố c u thành t i "Tàng trữ trái phép ch t ma t y" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự năm 2015.
Xét tính ch t, mức đ hành vi phạm t i: hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế đ đ c quyền quản lý của nhà nước về các ch t gây nghiện, tính ch t của hành vi phạm t i là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng x u tới tình hình trật tự trị an, làm phát sinh nhiều t i phạm và tệ nạn xã h i khác. Do đó, cần xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt: bị cáo Tô Quang T tàng trữ 0,17gam Heroin nên bị xét xử theo khoản 1 Điều 249 B luật hình sự năm 2015.
. Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại th i điểm phạm t i, bị cáo được coi là không có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi bị phát hiện hành vi phạm t i đã thành khẩn khai báo, tự giác giao n p 01 gói heroine đang c t d u nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Ngư i phạm t i thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 B luật Hình sự năm 2015;
Bố đẻ bị cáo là Tô Quang T là thương binh hạng 1/4, được tặng Huân chương kháng chiến hạng nh t; mẹ đẻ là Trần Thị M (Trần Thị Kim M) được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba và được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nh t nên bị cáo được hưởng thêm 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 B luật hình sự năm 2015.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về hình phạt: căn cứ tính ch t và mức đ hành vi phạm t i của bị cáo tàng trữ 0,17g heroine và các tình tiêt giảm nhẹ trách nhiệm hình sự th y rằng mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đề nghị đối với bị cáo Tô Quang T từ 18 đến 24 tháng tù là có phần nặng vì bị cáo được áp dụng 03 tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 01 tình tiết ở khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo là con duy nh t của thương binh nặng nên cần áp dụng mức khởi điểm của khung hình phạt tại khoản 1 Điều 249 BLHS là tương xứng với tính ch t mức đ của hành vi phạm t i mà bị cáo thực hiện.
Về hình phạt bổ sung: ch p nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số Heroine, bị cáo khai mua với m t ngư i đàn ông khoảng 35 tuổi (không biết tên và địa chỉ) ở Bến xe khách thành phố C, sự việc không có ai biết nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đang tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý trong vụ án khác.
Về vật chứng, xử lý vật chứng: điện thoại di đ ng màu đen nhãn hiệu PHILIPS không liên quan đến hành vi phạm t i nên cần trả lại cho bị cáo. Số vật chứng còn lại là ma t y, dụng cụ sử dụng ma t y nhà nước c m lưu hành cần được tịch thu tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo Tô Quang T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Tô Quang T phạm t i "Tàng trữ trái phép ch t ma t y".
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 B luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Tô Quang T.
Xử phạt: Bị cáo Tô Quang T 01(m t) năm tù. Th i hạn ch p hành hình phạt tù được tính từ ngày 08/7/2018.
3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 B luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 0,17 gam Heroine thu giữ tại nhà bị cáo; 01 (m t) phong bì niêm phong ghi tang vật cân (mẫu 01) vụ: Tô Quang T, sinh năm 1985, HKTT: tổ T, phư ng H, thành phố C, tàng trữ trái phép ch t ma t y;
+ 01 (m t) lọ nhựa màu trắng cao khoảng 20 cm, nắp có hai lỗ được nối m t ống nhựa màu trắng hồng, đen dài khoảng 40 cm và m t ống thủy tinh màu trắng dài khoảng 10 cm, m t đầu có hình cầu tròn (dụng cụ sử dụng ma t y).
- Trả lại cho bị cáo 01 (m t) điện thoại di đ ng màu đen nhãn hiệu PHILIPS trong m t phong bì niêm phong;
Xác nhận toàn b vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo biên bản bàn giao vật chứng, tài sản ngày 13/7/2018.
4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 B luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thư ng vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Bị cáo Tô Quang T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Công an TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Hợp |