vanban.org

Bản án 75/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 06/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Phạm Văn L 20 (Hai mươi) tháng tù.

Xử phạt: Hà Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày tạm giam 24/5/2018. Không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn L và đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Phạm Văn L 20 (Hai mươi) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN V H
TỈNH SƠN LA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2018/HS-ST
Ngày 06 tháng 8 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tráng A Lứ và ông Mùi Văn Huấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnVH tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2018/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2018, đối với các bị cáo:

1. Phạm Văn L, sinh năm 1993, tại Hòa Bình.

Nơi cư trú: Xóm X T, xã X Kh, huyện M Ch, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn Bvà bà Phạm Thị Ng; Bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án, Tiền sự: không;

Bị bắt, tạm giam ngày 24 tháng 5 năm 2018 đến nay. Có mặt.

2. Hà Văn T, sinh năm 1990, tại Hòa Bình.

Nơi cư trú: Xóm Ph, xã B L, huyện M Ch, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12 ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Văn Hvà bà Hà Thị Th; Bị cáo chưa có vợ con;.

Tiền án, Tiền sự: không;

Bị bắt, tạm giam ngày 24 tháng 5 năm 2018 đến nay. Có mặt.

Người có QLNVLQ: Bà Hà Thị Th, sinh năm 1963, địa chỉ: Xóm Ph, xã B L, huyện M Ch, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 30 phút, ngày 24/5/2018, tại bản C Ch, xã L L, huyện VH, tỉnh Sơn La. Tổ công tác Công an huyện VH phối hợp với các lực lượng chức năng, dừng xe máy BKS: 28M1 – 066.21 do Hà Văn T điều khiển chở phía sau Phạm Văn L. Qua kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Phạm Văn L tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ trong người L 01 gói nilon màu đen và màu trắng bên trong có 02 gói nilon màu trắng và màu xanh đều đựng chất bột màu trắng, L và T khai đó là Heroine. Do cùng là bạn nghiện ma túy, khoảng 11 giờ ngày 24/5/2018, L gọi điện thoại rủ T cùng đi tìm mua ma túy về sử dụng. T đồng ý, hỏi mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, BKS 28M1 – 066.21 của mẹ đẻ là bà Hà Thị Th, chở L đến khu vực bản H K, xã H K, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Tại đây, L và T gặp một thanh niên dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ. L đưa cho T 220.000 đồng để T đưa cho người thanh niên đó mua Heroine. Người thanh niên đưa cho T 02 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng và màu xanh. L và T lấy một ít sử dụng. Sau đó, L gói lại, cầm trên tay trái quay về. Khi cả hai về đến khu vực bản Co Chàm thì bị phát hiện bắt giữ.

Cơ quan điều tra Công an huyện VH đã niêm phong vật chứng là gói Heroine; tạm giữ của Phạm Văn L 500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Forme; tạm giữ của Hà Văn T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, BKS 28M1 – 066.21, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo.

Cùng ngày, Tại Cơ quan điều tra tiến hành cân tịnh số ma túy thu giữ của Phạm Văn L và Hà Văn T xác định được như sau:

+ Gói thứ nhất có khối lượng 0,25 gam, lấy 0,03 gam làm mẫu giám định ký hiệu L.

+ Gói thứ hai có khối lượng 0,19 gam, lấy 0,05 gam làm mẫu giám định ký hiệu L2.

Kết luận giám định số 652/KLMT ngày 29/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu L, L2 là chất ma túy; Loại Heroine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,08 gam; Tổng khối lượng của chất ma túy thu giữ được là 0,44 gam.Loại chất Heroine”

Quá trình điều tra, xác minh việc Hà Văn T mượn xe máy Yamaha, BKS 28M1 – 066.21của bà Hà Thị Th, nhưng không nói cho bà Thon biết việc dùng xe đi mua ma túy sử dụng. Bà Thon không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của L và T. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VH đã trả lại chiếc xe máy cho bà Hà Thị Th.

Cáo trạng số 51/CT – VKS ngày 17/7/2018 của VKSND huyện VH, truy tố Phạm Văn L và Hà Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét: Tuyên bố Phạm Văn L và Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

* Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 17, 58 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt:

+ Phạm Văn L từ 18 đến 24 tháng tù.

+ Hà Văn T từ 15 đến 18 tháng tù.

* Không phạt bổ sung đối với các bị cáo; áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,36 gam Heroine và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng que thử ma túy đối với Phạm Văn L; 01 phong bì bên trong đựng que thử ma túy đối với Hà Văn T.

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng điện thoại di động nhãn hiệu Forme đã qua sử dụng của Phạm Văn L; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đã qua sử dụng của Hà Văn T.

+ Tạm giữ số tiền 200.000 đồng của Phạm Văn L để đảm bảo thi hành án phí, trả lại bị cáo 300.000 đồng.

Người có QLNVLQ, bà Hà Thị Th cho rằng: Con trai bà là Hà Văn T về hỏi mượn xe máy đi chơi với bạn bè, không nói với bà việc T dùng xe máy đi mua ma túy. Sau đó, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe còn nguyên vẹn, không bị hư hỏng, không phải sửa chữa. Do đó, bà không có ý kiến gì về việc yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Phạm Văn L và Hà Văn T là bạn nghiện ma túy. Ngày 24/5/2018 L gọi điện thoại rủ T cùng đi tìm mua ma túy về sử dụng. T dùng xe máy của gia đình chở L đến khu vực bản H K, xã H K, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình hỏi mua được của một người thanh niên dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ 02 gói Heroine với giá 200.000 đồng, trên đường quay về thì bị bắt giữ.

Hành vi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích sử dụng của Phạm Văn L và Hà Văn T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS 2015. HĐXX xét thấy, việc khởi tố, truy tố của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tính chất hành vi và vai trò của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự địa phương. Cần tiếp tục xử phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Phạm Văn L là người khởi xướng, rủ rê, bỏ tiền mua ma túy. Hà Văn T là người thực hành chủ động, nhưng Phạm Văn L là người có vai trò cao hơn đồng phạm. Do vậy Phạm Văn L sẽ phải chịu hình phạt cao hơn đối với Hà Văn T.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hố cải, nên đều được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS

Về phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có tài sản có giá trị, sống phụ thuộc gia đình; nghiện ma tuý, không có khả năng thi hành, nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,36 gam Heroine và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Phạm Văn L; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Hà Văn T là những vật bị cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.

01 phong bì bên trong đựng điện thoại di động nhãn hiệu Forme của Phạm Văn L và 01 phong bì bên trong đựng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo của Hà Văn T là những vật các bị cáo dùng liên lạc thực hiện việc phạm tội. Do vậy, cần tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Số tiền 500.000 đồng thu của Phạm Văn L không liên quan đến việc phạm tội, không tịch thu, nhưng cần tạm giữ 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án phí, còn lại trả bị cáo 300.000 đồng.

Chiếc xe máy Yamaha, BKS 28M1 – 066.21 mà T dùng chở L đi mua ma túy là tài sản hợp pháp của bà Hà Thị Th (mẹ đẻ T). T mượn xe nhưng không nói cho bà Thon biết việc dùng xe đi mua ma túy sử dụng. Bà Thon không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của L và T. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VH đã trả lại chiếc xe máy cho bà Hà Thị Th là có căn cứ, cần chấp nhận.

Chấp nhận việc bà Hà Thị Th không yêu cầu bị cáo Hà Văn T phải bồi thường.

Về nguồn gốc chất ma túy: Các bị cáo khai mua của một người thanh niên dân tộc Mông, không biết tên, địa chỉ tại Bản H K, xã H K, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý trong vụ án này, không đặt vấn đề giải quyết.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 17, 58 BLHS 2015. Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn L và Hà Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt: Phạm Văn L 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày tạm giam 24/5/2018.

- Xử phạt: Hà Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày tạm giam 24/5/2018.

Không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,36 gam Heroine và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Phạm Văn L; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Hà Văn T.

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Forme của Phạm Văn L và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo của Hà Văn T.

+ Tạm giữ số tiền 200.000 đồng của Phạm Văn L để đảm bảo thi hành án phí, trả lại bị cáo 300.000 đồng.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy Yamaha, BKS 28M1 – 066.21 cho bà Hà Thị Th quản lý, sử dụng.

Toàn bộ Vật chứng theo biên bản giao vật chứng số: 69/BBVC ngày 23/7/2018, và biên lai thu tiền ngày 02 tháng 7 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VH

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có QLNVLQ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – chủ tọa

Hội thẩm nhân dân

Tráng A Lứ

Nguyễn Đăng Quang

Mùi Văn Huấn Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAT

- VKS tỉnh, huyện

- CA huyện, CQ THAHS

- Sơ TP

- Trại Giam

- Bị cáo

- Người có QLNVLQ

- Lưu HS.

Nguyễn Đăng Quang

- Lưu VP

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6)ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thânghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ