vanban.org

Bản án 75/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 02/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lê Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: bị cáo Lê Minh P 18 (Mười tám) tháng tù, thời gian ở tù tính từ ngày bị bắt (24/5/2018). Tuyên bố: bị cáo Nguyễn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "75 Lê Minh phụng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tuyên xử; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2018/HSST
Ngày: 12/10/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thạch

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Minh, Giám đốc Trung tâm Văn hóa –Thể thao huyện T

2. Bà Nguyễn Thị Bích Lam, Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Quốc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T

- Đại diện Viện kiểm sát huyện T tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thìn, Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 76/2018/HSST, ngày 06/9/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2018/HSST ngày 28/9/2018, đối với các bị cáo:

1. Lê Minh P (tên gọi khác: Khang), sinh năm: 1986. tại: tỉnh B. Nơi cư trú: khu phố Minh Tân 1, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh B; nghề nghiệp: làm biển; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; con ông Lê Văn Thuận và bà Nguyễn Thị Liên; vợ Lê Thị Hiền (đã ly hôn); con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: ngày 05/8/2015 bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 19/5/2017; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/5/2018 và có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn M, sinh năm: 1973. tại: tỉnh B. Nơi cư trú: khu phố Minh Tân 1, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh B; nghề nghiệp: làm biển; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; con ông: Nguyễn Cu và bà Nguyễn Thị Mẹt (đều đã chết); vợ Dương Thị Kim Thủy (đã ly hôn); con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền sự: không; có 01 tiền án: ngày 08/9/2011 bị Tòa án nhân dân huyện T, xử phạt 8 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2018 (chưa được xóa án tích); bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/5/2018 và có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Hoàng V (tên gọi khác:Bé Em), sinh năm: 1999. tại: tỉnh B. Nơi cư trú: khu phố Giang Hải 3, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh B; nghề nghiệp: không có nghề; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; con ông Nguyễn Ngọc Thanh Tùng và bà Nguyễn Thị Hạ; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/5/2018 và có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/5/2018 tổ công tác của Công an huyện T, phối hợp cùng Công an thị trấn Phan Rí Cửa và Đồn biên phòng Hòa Minh tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang Lê Minh P, Nguyễn M và Nguyễn Hoàng V tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà của M ở khu phố Minh Tân 1, thị trấn Phan Rí Cửa. thu giữ dưới nền nhà trong phòng ngủ của M nơi P đang ngồi: 33 đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín một đầu, bên trong khong có gì; 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng dài khoảng 20cm, bên trong không có gì; 01 đoạn ống nhựa màu hồng dài khoảng 04cm được cắt vát hai đầu; 01 kéo kim loại màu trắng, dài khoảng 08cm; 01 bật lửa; 01 dao lam đã qua sử dụng; 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy; một số chất màu trắng nhiều hình sạng, kích thước khác nhau (thu giữ bỏ vào gói nylon màu trắng kích thước 3,5x05cm được hàn kín lại). Thu giữ của Nguyễn M 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu bạc; thu giữ của Lê Minh P 02 điện thoại di động (01 cái hiệu OPPO màu trắng vỏ màu đỏ; 01 cái hiệu Mobell màu đen); thu giữ trong ví da của P 03 dao lam; thu giữ của Nguyễn Hoàng V 01 điện thoại di động màu đen trắng mặt trước ghi chữ Vell-com và số tiền 350.000 đồng.

Gửi giám định số ma túy thu giữ dưới nền nhà phòng ngủ tại nhà của M. Tại bản kết luận giám định số 474/KLGĐ-PC54 ngày 28/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,9233 gam; là Heroin.

Lê Minh P khai nhận: khoảng 10 giờ ngày 24/5/2018 P đi đến nhà của Nguyễn M ở khu phố Minh Tân 1, thị trấn Phan Rí Cửa để phụ dọn dẹp nhà cửa thì M nhờ P phân lẻ heroin cho M, P đồng ý. M đưa cho P 01 cục heroin để phân lẻ, trong lúc P đang chia nhỏ cục heroin mà M đã đưa thì M có nói Nguyễn Hoàng V phụ giúp P phân lẻ heroin, lúc này P lấy điện thoại hiệu Mobell màu đen của P bật đèn pin đưa cho V cầm soi cho sáng để P phân lẻ heroin. Được một lúc thì P nói V đi ra ngoài canh chừng nếu có ai đi đến thì báo để P biết để dọn dẹp phi tang.

Nguyễn Hoàng V khai nhận: khoảng 10 giờ ngày 24/5/2018 V đi đến nhà của M để phụ dọn dẹp nhà cửa, được một lúc thì thấy Lê Minh P cũng đi tới nhà của M. V chứng kiến việc P cắt ống hút nhựa thành từng đoạn nhỏ rồi dùng bật lửa hàn kín lại một đầu, lúc P lấy cục heroin ra để cắt nhỏ thì M nói V đi đến phụ giúp cho P phân lẻ heroin. Lúc này P lấy điện thoại bật đèn pin đưa cho V cầm soi cho sáng để P phân lẻ heroin, lúc P cắt được khoảng 10 cục heroin nhỏ thì P nói V đi ra trước nhà canh chừng nếu có ai đến thì báo cho P biết. Lúc này Nguyễn M làm vệ sinh dụng cụ sự dụng ma túy đá ở gần P. Được một lúc V phát hiện có lực lượng công an đi đến (trong đó có Phan Tuấn Khanh là cảnh sát khu vực thuộc Công an thị trấn Phan Rí Cửa) liền đi vào phòng nơi M và P đang phân lẻ heroin, V nói “cậu M có chú Khanh vào kiếm”. cả V, P và M chưa kịp phản ứng thì bị lực lượng công an bắt giữ cùng tang vật.

Nguyễn M khai nhận: khoảng 10 giờ ngày 24/5/2018 Lê Minh P đi đến nhà của M và rủ M sử dụng chung ma túy đá nhưng M không sử dụng. Đến khoảng hơn 10 giờ cùng ngày 24/5/2018 M đi vào phòng dọn dẹp thì thấy P đang phân lẻ heroin, M có chửi P Nhưng M vẫn để cho P tiếp tục phân lẻ heroin và cùng ở trong phòng với P cho tới khi bị lực lượng công an bắt giữ.

Nguyễn M không thừa nhận số Heroin mà lực lượng công an đã thu giữ là của M mà là của Lê Minh P tự đem đến nhà của M để phân lẻ. Nhưng có đủ cơ sở xác định Nguyễn M là đồng phạm với vai trò là người giúp sức, tạo điều kiện cho Lê Minh P tàng trữ Heroin.

Bản cáo trạng số: 75/QĐ/KSĐT/VKS/HS, ngày 16/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, đã truy tố các bị cáo Lê Minh P, Nguyễn M và Nguyễn Hoàng V, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và tranh luận vẫn giữ nguyên cáo trạng

+ Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38 ; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, để xử phạt bị cáo P từ 18 đến 24 tù tháng tù

+ Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, để xử phạt bị cáo M từ 24 đến 30 tháng tù.

+ Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38 ; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, để xử phạt bị cáo V từ 12 đến 18 tháng tù.

Về phần xử lý tang vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên xử:

- Trả lại cho bị cáo M 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu bạc;

- Trả lại cho bị cáo P 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng vỏ màu đỏ;

- Trả lại cho bị cáo V 01 điện thoại di động màu đen trắng mặt trước ghi chữ Vell-com và số tiền 350.000 đồng.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 cái hiệu Mobell màu đen

- Tịch thu tiêu huỷ: 33 đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín một đầu, bên trong khong có gì; 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng dài khoảng 20cm, bên trong không có gì; 01 đoạn ống nhựa màu hồng dài khoảng 04cm được cắt vát hai đầu; 01 kéo kim loại màu trắng, dài khoảng 08cm; 01 bật lửa; 01 dao lam đã qua sử dụng; 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đá và 0,2110 gam mẫu vật được hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 474.

Lời nói sau cùng của bị cáo:

- Bị cáo P: xin Hội đồng xét xử xem xét, xử cho bị cáo một mức án thấp nhất, để bị cáo sớm trở về với gia đình hòa nhập với xã hội. Bị cáo hứa sẽ không tái phạm.

- Bị cáo M và bị cáo V không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó có cơ sở khẳng định các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi của bị cáo và chứng cứ:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Minh P và bị cáo Nguyễn Hoàng V đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, các bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả giám định chất ma tuý và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: vào ngày 24/5/2018 Lê Minh P và Nguyễn Hoàng V có hành vi tàng trữ, phân lẻ 01 cục heroin ra làm nhiều tép nhỏ tại nhà của Nguyễn M ở khu phố Minh Tân 1, thị trấn Phan Rí Cửa. thì bị phát hiện, thu giữ.

Đối với Nguyễn M Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không thừa cục heroin là của mình, nhưng bị cáo thừa nhận hành vi chứa chấp P tàng trữ ma túy ngay trong nhà của mình là vi phạm pháp luật và Viện kiểm sát huyện T truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng, không oan sai, căn cứ vào lời khai của bị cáo P và bị cáo V và các chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở khẳng định vào ngày 24/5/2018 Nguyễn M có hành vi tàng trữ 1 cục Heroin và M đã nhờ Lê Minh P phân lẻ 01 cục heroin ra làm nhiều tép nhỏ, có sự giúp sức của Nguyễn Hoàng V tại nhà của M ở khu phố Minh Tân 1, thị trấn Phan Rí Cửa. thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 474/KLGĐ-PC54 ngày 28/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,9233 gam; là Heroin.

Vì vậy, bản cáo trạng số 75/CT/VKSTP-HS ngày 06/9/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, truy tố các bị cáo Lê Minh P, Nguyễn M và Nguyễn Hoàng Vụ, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và mức hình phạt:

Ma tuý, là loại độc dược là chất gây nghiện mà Nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép, đây là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, các căn bệnh thế kỷ, làm lây truyền vi rút gây bệnh khó chữa, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, thế nhưng các bị cáo đã coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, nên cần phải xử lý các bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có đủ thời gian cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội đồng thời để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật hình sự Việt Nam.

Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Các bị cáo Lê Minh P và Nguyễn Hoàng V là người chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét chiếu cố khi xử lý, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần trong mức hình phạt, để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước Xã hội chủ nghĩa. Riêng bị cáo Lê Minh P có quá trình hoạt động nhân thân không tốt, ngày 05/8/2015 bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 19/5/2017 nên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét liên quan đến mức hình phạt đối với bi cáo.

Đối với bị cáo Nguyễn M không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng có 1 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạm tội lần này thuộc trường hợp “ tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, nên cần phải xử bị cáo một mức án nghiêm khắc hơn.

Về xử lý tang, vật chứng của vụ án:

Cơ quan điều tra đã chuyển gửi số tiền 350.000 đồng thu giữ của Nguyễn Hoàng V đến tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T và chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T: 33 đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín một đầu, bên trong khong có gì; 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng dài khoảng 20cm, bên trong không có gì; 01 đoạn ống nhựa màu hồng dài khoảng 04cm được cắt vát hai đầu; 01 kéo kim loại màu trắng, dài khoảng 08cm; 01 bật lửa; 01 dao lam đã qua sử dụng; 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đá; 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu bạc; 02 điện thoại di động (01 cái hiệu OPPO màu trắng vỏ màu đỏ; 01 cái hiệu Mobell màu đen); 03 dao lam; 01 điện thoại di động màu đen trắng mặt trước ghi chữ Vell-com và 0,2110 gam mẫu vật được hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 474.

Đối với số tiền 350.000đ và điện thoại di động thu giữ của các bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho các bị cáo, riêng chiếc điện thoại hiệu Mobell màu đen của bị cáo P, mà bị cáo V dùng bật đèn pin để soi sáng cho bị cáo P phân heroin, là phương tiện dùng trong việc phạm tội, nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 33 đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín một đầu, bên trong khong có gì; 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng dài khoảng 20cm, bên trong không có gì; 01 đoạn ống nhựa màu hồng dài khoảng 04cm được cắt vát hai đầu; 01 kéo kim loại màu trắng, dài khoảng 08cm; 01 bật lửa; 01 dao lam đã qua sử dụng; 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đá; 03 dao lam và 0,2110 gam mẫu vật được hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 474 là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của pháp luật.

Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên tòa là có căn cứ, nên chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Tuyên bố: bị cáo Lê Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Xử phạt: bị cáo Lê Minh P 18 (Mười tám) tháng tù, thời gian ở tù tính từ ngày bị bắt (24/5/2018).

2. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; khoản 1 Điều 50, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Xử phạt: bị cáo Nguyễn M 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời gian ở tù tính từ ngày bị bắt (24/5/2018).

3. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hoàng V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng V 12( Mười hai) tháng tù, thời gian ở tù tính từ ngày bị bắt (24/5/2018).

4. Phần xử lý tang vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tuyên xử:

- Trả lại cho bị cáo M 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu bạc;

- Trả lại cho bị cáo P 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng vỏ màu đỏ;

- Trả lại cho bị cáo V 01 điện thoại di động màu đen trắng mặt trước ghi chữ Vell-com và số tiền 350.000 đồng (theo biên lai thu tiền số 0002176 ngày 20/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T).

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 cái hiệu Mobell màu đen

- Tịch thu tiêu huỷ: 33 đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín một đầu, bên trong khong có gì; 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng dài khoảng 20cm, bên trong không có gì; 01 đoạn ống nhựa màu hồng dài khoảng 04cm được cắt vát hai đầu; 01 kéo kim loại màu trắng, dài khoảng 08cm; 01 bật lửa; 01 dao lam đã qua sử dụng; 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đá và 0,2110 gam mẫu vật được hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 474.

(Vật chứng được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/9/2018 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T).

5. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo, mỗi người phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/10/2018).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ