- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Giàng A T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP TỈNH ĐIỆN BIÊN ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75 /2018/HS-ST Ngày 05 -11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thùng Văn Quân và ông Vàng A Hý.
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phùng Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên; Tòa án nhân dân huyện NP mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2018/TLST-HS ngày 11/9/2018.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2018/QĐXXST-HS ngày 23/10/2018 đối với bị cáo.
Giàng A T; Sinh năm: 1976 tại huyện M, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Bản N, xã NB, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Giàng Seo C (đã chết) và con bà: Lý Thị C (đã chết); Bị cáo có vợ là Thào Thị D sinh năm 1977 và có 05 người con; Tiền sự: Không; tiền án: Không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2018 tại Công an huyện NP. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 05 phút, ngày 05/6/2018, tổ công tác Công an huyện NP phối hợp với Công an xã NB làm nhiệm vụ tại khu vực Bản N, xã NB, huyện NP, bắt quả tang Giàng A T đang tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà. Thu giữ vật chứng là 01 hộp nhựa màu đen bên trong có 01 gói nị lông màu trắng chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen, có mùi hắc nghi thuốc phiện và 01 bộ bàn đèn tự tạo dùng để hút thuốc phiện. Giàng A T khai nhận do T nhờ Cháng Thị Máng ở Bản N, xã NB mua hộ vào ngày 01/6/2018 với giá 800.000đ với mục đích để dụng cho bản thân.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 06/6/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP xác định: Vật chứng nghi là Thuốc phiện thu giữ của Giàng A T có khối lượng là 51 (Năm mươi mốt) gam.
Bản kết luận giám định số: 541/GĐ-PC54, ngày 14/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất dẻo màu nâu đen trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng A T gửi giám định là chất ma túy: Loại Thuốc phiện.
2Cáo trạng số: 41/CT-VKSNP ngày 11/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên truy tố bị can Giàng A T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Giàng A T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Giàng A T từ 30 tháng đến 36 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án là thuốc phiện, 01 hộp nhựa màu đen và một bộ bàn đèn tự tạo. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Miễn án phí HSST theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Giàng A T nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo Giàng A T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Giàng A T khai nhận hành vi phạm tội của mình là mua ma túy để sử dụng phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Giàng A T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249/BLHS.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt các chất ma tuý của Nhà nước, mặt khác hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, để có ma túy sử dụng bị cáo đã mua ma túy tàng trữ sử dụng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã đi ngược lại với đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc cấm trồng, sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý. Vậy hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giữ vững kỷ cương của pháp luật góp phần đẩy lùi tội phạm ma tuý trong xã hội và làm gương răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong nhân dân.
Về nhân thân bị cáo: Giàng A T xuất thân trong gia đình lao động nhưng không chịu lao động sống đua đòi, buông thả nên đã nghiện ma túy để có ma túy sử dụng bị cáo đã mua ma túy về tàng trữ để sử dụng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Đối với Cháng Thị Máng trú tại Bản N, xã NB, huyện NP, theo lời khai của Giàng A T là người đã đi mua thuốc phiện cho T vào ngày 01/6/2018; Qua điều tra xác minh Máng không có mặt tại nơi cư trú nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NP sẽ xem xét xử lý bằng một vụ án khác.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249/BLHS xét thấy bản thân bị cáo Giàng A T là người nghiện ma túy, hoàn cảnh gia đình khó khăn không có khả năng thi hành nên được miễn hình phạt bổ sung.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Tuyên tịch thu tiêu huỷ 47 gam nhựa thuốc phiện (sau khi đã trừ mầu gửi giám định), 01 hộp nhựa màu đen và 01 bộ bàn đèn tự tạo dùng để hút thuốc phiện do không có giá trị sử dụng.
Về án phí: Căn cứ Điều 136/BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Xét thấy bị cáo Giàng A T là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ nên HĐXX miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Giàng A T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm b khoản 1 Điều 249/BLHS: Xử phạt bị cáo Giàng A T 30 (Ba mươi) tháng tù, kể từ ngày bị bắt: 05/6/2018.
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu huỷ 47 (Bốn mươi bảy) gam thuốc phiện, 01 hộp nhựa màu đen và 01 bộ bàn đèn tự tạo dùng để hút thuốc phiện (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/9/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NP).
[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Bị cáo Giàng A T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - CQĐT Công an huyện NP; - Nhà tạm giữ Công an huyện NP; - CQTHAHS huyện NP; - Phòng KTNV và THA Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện NP; - PC 81 CA tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện NP; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Vàng Thị Dua |