- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ sơ vụ án Hình sự sơ thẩm Tô Văn S phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Tô Văn S (Sơn, Son) 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách 04 năm kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2018/HS-ST Ngày 15-11-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Sƣơng
Ông Huỳnh Vũ Lập
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phƣơng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Tô Văn S (Tên gọi khác: Son, Sơn), sinh năm 1983 tại Vạn Ninh, Khánh Hòa
Nơi cư trú: TDP B 2, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ C (đã chết) và bà Tô Thị P; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Bà Phạm Thị C, sinh năm 1940 (đã chết)
Địa chỉ: TDP M, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1968
Địa chỉ: TDP T, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
+ Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1970
Địa chỉ: TDP M, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
+ Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1973
Địa chỉ: TDP N, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
+ Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1975
Địa chỉ: TDP 1, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
+ Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1977
Địa chỉ: TDP M, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
+ Ông Nguyễn Đức N, sinh năm 1980
Địa chỉ: TDP M, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Bà P, bà L, bà P, bà Đ và ông N ủy quyền cho ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1968 tham gia giải quyết vụ án theo văn bản ủy quyền lập ngày 06/3/2018.
Ông L có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Lê Hữu V, sinh năm 1964;
Địa chỉ: TDP B 1, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Ông V có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 22/02/2018, Tô Văn S không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng vẫn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79H1-050.76 lưu hành theo hướng Ninh Diêm – Ninh Phước, khi đến đường Lê Hồng Phong thuộc tổ dân phố N, phường N, thị xã N, do S không giảm tốc độ theo quy định nên khi thấy bà Phạm Thị C đi bộ qua đường từ bên phải sang trái, S không xử lý kịp đã đâm vào bà C gây tai nạn giao thông. Bà C bị thương nặng được đưa vào bệnh viện cấp cứu nhưng sau đó tử vong.
Tại bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 172/GĐHS-TTPY ngày 09 tháng 4 năm 2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận nguyên nhân tử vong của bà Phạm Thị C do chấn thương sọ não.
Theo biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 22/02/2018 thì nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng có tầm nhìn xa tốt, đường đi hướng Ninh Diêm – Ninh Phước và ngược lại, mặt đường rộng 6,7m và đang được thi công (rải đá dăm), hai bên đường lề đất rộng mỗi bên 1,7m, phía trong là nhà dân sinh sống. Sau khi xảy ra tai nạn, trên lề đường bên phải xe mô tô biển kiểm soát 79H1-050.76 ngã nghiêng bên trái, tậm trục bánh trước và bánh sau cách mép đường 1,3m và 0,5m, vết máu cách tâm trục bánh trước 1,5m.
Theo biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 22/02/2018 thì nhiều bộ phận bên trái xe mô tô biển kiểm soát 79H1-050.76 bị trầy xước, mài mòn và bị đẩy lệch, nhựa ốp trước đầu xe bị vỡ.
Trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường tổn thất tinh thần và hỗ trợ chi phí mai táng cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm và có đơn xin bãi nại cho bị cáo.
Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ninh Hòa thu giữ được: 01 xe mô tô BKS 79H1-050.76 là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Lê Hữu V. Hiện tại tài sản đã được trả lại cho chủ sở hữu.
Tại bản Cáo trạng số 71/CT-VKS-HS ngày 23/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Tô Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Tô Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo S mức án từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về bồi thường dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại thừa nhận đã nhận bồi thường thiệt hại từ bị cáo và không yêu cầu gì nên không xem xét.
Về vật chứng vụ án: Vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định nên không xem xét.
Bị cáo Tô Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Tô Văn S khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố và bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa nên không có ý kiến tranh luận gì thêm và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Đức L không tranh luận gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hữu V không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ninh Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Tô Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Tô Văn S đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, phần tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét hành vi của bị cáo Tô Văn S là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã vi phạm quy định của luật giao thông đường bộ khi điều khiển xe mô tô trên 50cm3 nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định tại Điều 8, Điều 58, Điều 59 Luật giao thông đường bộ. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông nhưng không làm chủ tốc độ theo quy định tại Điều 12 Luật giao thông đường bộ nên dẫn đến gây tai nạn giao thông cho bà Phạm Thị C khi bà đang đi bộ băng qua đường. Hậu quả làm bà C bị thương sau đó chết. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm các quy định của pháp luật về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà còn gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Do đó, cần phải xử phạt một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về nhân thân, bị cáo Tô Văn S là thành phần nhân dân lao động; chưa có tiền án tiền sự; tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại, được đại diện của gia đình bị hại xin bãi nại và tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong vụ án phía bị hại cũng có một phần lỗi khi băng qua đường không quan sát, không đảm bảo an toàn, đang qua đường đột nhiên dừng lại làm bị cáo rơi vào tình huống bất ngờ xử lý không kịp dẫn đến gây tai nạn. Gia đình bị cáo thuộc diện khó khăn tại địa phương, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Từ những tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, HĐXX quyết định áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự khi lượng hình. Xét thấy không cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hữu V: Ông V khai chiếc xe mô tô 79H1-050.76 do ông mua vào năm 2011, giấy đăng ký xe mang tên Lê Hữu V. Khi bị cáo S hỏi mượn xe đi công việc ông không biết bị cáo chưa có giấy phép lái xe, bị cáo sử dụng xe và gây tai nạn ông không biết, khi nhận lại xe có bị hư hỏng nhưng tại phiên tòa ông không yêu cầu bị cáo S bồi thường nên HĐXX không xét.
Về bồi thƣờng dân sự: Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Đức L thừa nhận đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần và hỗ trợ mai táng từ bị cáo và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Về vật chứng của vụ án: Vật chứng của vụ án đã được trả lại cho chủ sở hữu nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Tô Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm a Khoản 2 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Tô Văn S.
Xử phạt bị cáo Tô Văn S (Sơn, Son) 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách 04 năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Tô Văn S cho Ủy ban nhân dân phường N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
* Về vật chứng: Các vật chứng đã trả chủ sở hữu nên không xem xét.
* Về án phí: Buộc bị cáo Tô Văn S (Sơn, Son) phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo Tô Văn S, người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thị xã Ninh Hòa; - Công an thị xã Ninh Hòa; - Chi cục THADS thị xã Ninh Hòa; - Sở Tư pháp Khánh Hòa; - Bị cáo; - Bị hại; người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thu Hiền |