vanban.org

Bản án 75/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 30/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt Phạm Minh T 30(Ba mƣơi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2017. * Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy mép dán có chữ ký của Bùi Văn Cường và Giám định viên Nguyễn Hồng Quân; Tịch thu sung quỹ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh T - MBTPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2018/HS-ST
Ngày: 30/3/2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thắng

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quốc Sơn

Ông Lê Văn Chư

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Giang, Cán bộ Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Tuấn, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2018, tại Tru ̣ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2018/TLST-HS ngày 22/3/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2018/QĐXXST-HS ngày 23/3/2018 đối với bị cáo:

Phạm Minh T, sinh ngày 04 tháng 10 năm 1991; Đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn T, xã B, thị xã Đ, tỉnh Q; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Minh Đ và bà Đoàn Thị H.

Tiền án:

- Bản án số 50 ngày 04/8/2009 của Tòa án nhân dân huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

- Bản án số 15 ngày 10/3/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt với bản án số 50 ngày 04/8/2009, buộc Phạm Minh T phải thi hành tổng cộng 27 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/12/2012 (đã được xóa án tích).

Bắt tạm giam ngày 14/12/2017 – Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Văn Cường, sinh năm 1986, HKTT: Tổ 4, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ ngày 14/12/2017, tại nhà nghỉ Victory thuộc tổ 6, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, tổ công tác Công an phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội phát hiện bắt quả tang Phạm Minh T đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Bùi Văn Cường (sinh năm 1986, HKTT: Tổ 4, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội), vật chứng thu giữ:

1. Thu giữ của Phạm Minh T:

- 01 điện thoại Samsung;

- 01 xe máy Honda Wave BKS 29U8-6963;

- 550.000 đồng.

2. Thu giữ của Bùi Văn Cường:

- 01 gói nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng;

- 01 điện thoại Nokia 105.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 11 giờ ngày 14/12/2017, Phạm Minh T đang ở phòng trọ tại tổ 16, phường Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội nhận được điện thoại của Bùi Văn Cường gọi đến. Qua điện thoại Cường hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, T đồng ý. Cường hẹn T mang ma túy đến nhà nghỉ Victory thuộc tổ 6, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Sau đó, T đi ra ngõ 678 đường Đê La Thành, Giảng Võ, Hà Nội gặp người phụ nữ tên là Bơ (chưa rõ nhân thân lai lịch) mua 01 gói ma túy đá với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T mang về phòng trọ tại tổ 16, phường Định Công lấy ra một ít ma túy để sử dụng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, T điều khiển xe máy Honda Wave BKS 29U8-6963 mang theo 01 gói ma túy đến nhà nghỉ Victory thuộc tổ 6, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội gặp Cường. T đưa ma túy cho Cường và nhận 550.000 đồng (gồm 500.000 đồng tiền ma túy và 50.000 đồng tiền công) thì bị tổ công tác Công an phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Bản kết luận giám định số 199 ngày 09 tháng 01 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilon là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,237 gam.

Về nguồn gốc số ma túy trên, Phạm Minh T khai mua của người phụ nữ tên Bơ (không quen biết) tại ngõ 678, đường Đê La Thành, Giảng Võ, Hà Nội, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác định được người phụ nữ này nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Bùi Văn Cường do khối lượng ma túy không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó ngày 29/12/2017, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 65 theo điểm a khoản 2 Điều 21 Nghị định số 167 ngày 12/11/2013 của Chính phủ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mức phạt là 1.500.000 đồng.

Về chiếc xe máy Honda Wave BKS 29U8-6963, xác định là tài sản của chị Phạm Minh hòa (sinh năm 1983, HKTT: 112 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội). Khi cho T mượn xe chị Hòa không biết T sử dụng xe đi mua bán ma túy. Vì vậy, ngày 29/12/2017, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 28 trao trả xe máy trên cho chị Phạm Minh Hòa.

Tại bản cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 19/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm thì Phạm Minh T bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên toà, bị cáo T khai nhận hành vi của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và kết luận bị cáo Phạm Minh T đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy ma túy, tịch thu sung quỹ nhà nước 02 điện thoại di động và số tiền 550.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ ngày 14/12/2017, tại nhà nghỉ Victory thuộc tổ 6, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, tổ công tác công an phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội phát hiện bắt quả tang Phạm Minh T đang có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,237 gam cho Bùi Văn Cường. Hành vi của bị cáo Phạm Minh T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, bị cáo nhận thức được việc bán ma túy cho đối tượng khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì lợi nhuận bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo nhân có nhân thân xấu, năm 2009 bị cáo bị kết án về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, năm 2011, bị cáo bị kết án về hành vi Trộm cắp tài sản. Mặc dù các bản án đều đã được xóa, nhưng cho thấy bị cáo là đối tượng đã nhiều lần được pháp luật giáo dục cải tạo, nhưng không sửa chữa, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội . Do đó, hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tù giam cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, phù hợp nhân thân của bị cáo, đồng thời mới có tác dụng giáo dục riêng bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét bị cáo khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Số ma túy đã thu giữ cho tịch thu tiêu hủy, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng và số tiền 550.000 đồng, thu của bị cáo và người liên quan, là tài sản liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điều 47; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015;

- Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt Phạm Minh T 30(Ba mƣơi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2017.

* Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy mép dán có chữ ký của Bùi Văn Cường và Giám định viên Nguyễn Hồng Quân; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen số IMEI 351750068328496, 01 điện thoại di động Samsung màu trắng số IMEI 356432050795496 và số tiền 550.000 đồng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 87 ngày 21/3/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949 ngày 20/3/2018 tại Kho bạc nhà nước quận Nam Từ Liêm.

* Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ