- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt: Bị cáo Phạm Văn K 27 (Hai mươi bảy) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2018/HS - ST Ngày: 09 - 10 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Cao Thượng.
Ông Nguyễn Ngọc Giao.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2018, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2018/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn K - Sinh năm 1964 tại huyện XT, tỉnh NĐ; nơi ĐKHKTT: Xóm ĐA, xã XT, huyện XT, tỉnh NĐ. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Đức T và bà Trần Thị H (đều đã chết); Vợ Đinh Thị Đ - Sinh năm 1971; có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2001.Tiền án: Ngày 12/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ra trại ngày 24/01/2017; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 26/02/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị bắt tạm giam tính từ ngày bị bắt tạm giữ 19/6/2018 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Người làm chứng:
1. Anh Mai Xuân H - Sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm 3 QT xã GT, huyện
GT, tỉnh NĐ.
2. Anh Phạm Văn K - Sinh năm 1975; địa chỉ: Xóm ĐA, xã XT, huyện XT, tỉnh NĐ.
Tại phiên tòa: Bị cáo có mặt; người làm chứng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 25 phút ngày 19/6/2018, tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy của Công an huyện Giao Thủy tuần tra tại khu vực xóm 3 QT xã GT phát hiện bắt giữ Phạm Văn K đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra đối với K. quá trình kiểm tra, K đã tự giác giao nộp 01 gói ma túy, K khai vừa mua về để sử dụng cho bản thân (niêm phong ký hiệu T). Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Ngày 20/6/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao thủy đã tiến hành trưng cầu giám định đối với số ma túy đã thu giữ của Khắc.
Tại bản kết luận giám định số: 568 /GĐKTHS ngày 20/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng được niêm phong ký hiệu T gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Trọng lượng (khối lượng) mẫu T: 0,207 gam.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Giao Thủy, cũng như tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 76/CT - VKS ngày 12/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo Phạm Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi cất giấu trái phép 01 gói Heroine, trọng lượng (khối lượng) là 0,207 gam. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn K từ 24 đến 30 tháng tù.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Heroine hoàn trả mẫu vật sau giám định.
Bị cáo Phạm Văn K nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 25 phút ngày 19/6/2018, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Giao Thủy tuần tra tại khu vực xóm 3 QT xã GT phát hiện bắt quả tang Phạm Văn K có hành vi cất giấu trái phép 01 gói Heroine có trọng lượng (khối lượng) 0,207 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự, xâm phạm tới đạo đức và sức khỏe con người. Bị cáo biết việc làm của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã từng phải chấp hành án phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo với tính chất nghiêm trọng, buộc bị cáo phải tập trung cải tạo một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[3] Khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số heroine hoàn trả mẫu vật sau giám định.
Về nguồn gốc số Heroine K cất giấu để sử dụng trái phép cho bản thân, Khắc khai mua của chị Phạm Thị L ở xóm 3 QT, xã GT với giá 300.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã làm việc với chị Len nhưng chị L không thừa nhận việc đã bán ma túy cho K nên không có căn cứ để xử lý.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt: Bị cáo Phạm Văn K 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2018.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 13/9/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Phạm Văn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Giao Thủy; - Chi cục THADS huyện Giao Thủy; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; - Công an huyện Giao Thủy; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Lâm |