vanban.org

Bản án 75/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 31/07/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị M và anh Lee được ly hôn.

Về con chung: Chị Ngô Thị M và anh Lee không có con chung và tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Ngô Thị M phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chị Mai được trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai - Lee Chan Hyeon"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị M và anh Lee được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2018/HNGĐ-ST
Ngày 31-7-2018
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phích

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Xuân Quyết

Bà Nguyễn Thị Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 31 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 116/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2018 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1527/2018/QĐXX-ST ngày 18 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị M; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Lee; nơi cư trú: 703, Sincheon-dong, Dong-gu, Daegu-si, Hàn Quốc; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Ngô Thị M trình bày:

Chị và anh Lee kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng vào ngày 03/10/2016. Sau khi kết hôn, anh Lee quay về Hàn Quốc để làm thủ tục bảo lãnh cho chị sang đoàn tụ. Tuy nhiên, từ đó đến nay, anh không về Việt Nam và không thông tin liên lạc gì với chị. Chị tìm cách liên lạc thì được biết hiện nay anh Lee đang ốm và muốn ly hôn với chị. Nay, xét thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng không thể đoàn tụ, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.

Về con chung và tài sản chung: Anh chị không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lee thống nhất với lời trình bày của chị Mai về việc kết hôn, quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng, con chung và tài sản chung. Anh cũng đề nghị Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh chị được ly hôn.

Tại phiên toà nguyên đơn chị Ngô Thị M có mặt và đồng ý việc ly hôn với anh Lee. Anh Lee vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do anh Lee đang ở nước ngoài không về Việt Nam được nên anh ủy quyền cho chị Mai nhận bản án. Đơn của anh Lee có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Chị Ngô Thị M và anh Lee cùng có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc hôn nhân của anh chị, anh Lee hiện cư trú tại Hàn Quốc. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về tố tụng: Anh Lee là bị đơn trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị M và anh Lee kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng vào ngày 03/10/2016. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị Mai và anh Lee đều xác định: Sau khi kết hôn, anh Lee quay về Hàn Quốc để làm thủ tục bảo lãnh cho chị sang đoàn tụ. Tuy nhiên, từ đó đến nay, anh không về Việt Nam và không thông tin liên lạc gì với chị, vợ chồng sống mỗi người một nơi, không có khả năng đoàn tụ. Xét, mục đích hôn nhân của chị Mai và anh Lee không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng, việc thuận tình ly hôn của anh chị là phù hợp quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Ngô Thị M và anh Lee theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung và tài sản chung: Chị Mai và anh Lee không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Ngô Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; Điều 55; Điều 56; Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 273, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị M và anh Lee được ly hôn.

2. Về con chung: Chị Ngô Thị M và anh Lee không có con chung và tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Ngô Thị M phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chị Mai được trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010803 ngày 03/7/2018 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Mai đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị M được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lee được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Trong trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014./.

Cỡ chữ