- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Hiên với anh Dương Văn Lập"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Võ Kiều H với ông Dương Văn L
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2018/HNGĐ-ST Ngày 26-6-2018 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Hận
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hải Hưng
Ông Đoàn Quốc Thống
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Anh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Ngày 26 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 137/2018/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 54/QĐST-HNGĐ, ngày 16 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Kiều H, sinh năm 1979 (có mặt)
- Bị đơn: Ông Dương Văn L, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp 19, xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 4 năm 2018 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Võ Kiều H trình bày: Năm 2000 bà và ông Dương Văn L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh An, huyện U Minh, trong quá trình chung sống vợ chồng luôn bất đồng ý kiến do ông L không lo làm ăn, không lo cho gia đình và ông L thường xuyên uống rượu về kiếm chuyện chửi mắng, hành hạ bà. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L, về con chung trong quá trình chung sống có 01 người con tên Dương Hữu K, sinh ngày 29 tháng 01 năm 2001, khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Dương Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia hòa giải, xét xử nhiều lần nhưng ông L vắng mặt không có lý do và không có ý kiến với yêu cầu của bà H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về tố tụng:
Bà Võ Kiều H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Dương Văn L, địa chỉ: Ấp 5, xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ông L vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông L.
2. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H với ông L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2000 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh An, huyện U Minh nên quan hệ hôn nhân giữa bà H với ông L là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tại phiên tòa bà H cương quyết xin được ly hôn với ông L vì vợ chồng chung sống thường xảy ra mâu thuẫn do ông L không lo làm ăn, không lo cho gia đình, thường hay kiếm chuyện chửi bới, hành hạ bà. Đối với ông L, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ ông L nhiều lần đề tham gia hòa giải nhưng ông L vắng mặt không tham gia hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng và không có ý kiến đối với yêu cầu của bà H. Điều này, cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà H với ông L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H về việc xin ly hôn với ông L.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà H với ông L có 01 người con chung tên Dương Hữu K, sinh ngày 29 tháng 01 năm 2001, khi ly hôn bà H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con. Xét thấy ông L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án nhưng ông L vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của bà H. Đồng thời, người con chung có nguyện vọng được sống chung với bà H. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H về việc được quyền trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Dương Hữu K, sinh ngày 29 tháng 01 năm 2001. Ông L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có, ông L không có ý kiến đối với phần tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này các bên có xảy ra tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình bà H phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51; 56, 57, 58 của Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Võ Kiều H với ông Dương Văn L
Về con chung: Giao người con chung tên Dương Hữu K, sinh ngày 29 tháng 01 năm 2001 cho bà Võ Kiều H tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Dương Văn L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Võ Kiều H phải chịu số tiền 300.000 đồng, bà H đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0011929 ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Án xử sơ thẩm, bà Võ Kiều H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Dương Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Nơi thực hiện việc kết hôn; - Lưu hồ sơ, văn thư. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Hận |