- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Bích T - Nguyễn Hoàng H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Bùi Thị Bích T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2018/HNGĐ-ST Ngày: 12-9 -2018 V/v tranh chấp HNGĐ - Ly hôn, nuôi con và chia tài sản. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NATM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Đô;
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hồ Thị Mai Hƣơng;
2. Ông Phạm Phƣớc Tâm;
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Trong ngày 12 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 381/2018/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 6 năm 2018 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình - Ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/8/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 148/2018/QĐST-HNGĐ ngày 03/8/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Bích T, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Ấp B, xã Phong M1, huyện Cao L, tỉnh Đồng Tháp.
Tạm trú: Ấp Trung C, xã Mỹ H1, huyện Chợ M2, tỉnh A.
Bị đơn:
Anh Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp B , xã Phong M1, huyện Cao L, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có đơn xin mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 04/6/2018, nguyên đơn chị Bùi Thị Bích T trình bày:
- Về hôn nhân: Chị T và anh H kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phong M1, huyện Cao L, tỉnh Đồng Tháp và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 24/8/2012. Thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc. Thời gian sau, giữa hai vợ chồng thường xảy ra cự cãi, bất đồng quan điểm trong gia đình. Chị T và anh H đã ly thân hơn 01 năm, thời gian này chị T về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Chị T đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Nay chị T yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng H.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H2, sinh ngày 19/3/2013, hiện đang sống chung với anh H. Khi ly hôn, chị T đồng ý giao con chung Nguyễn Ngọc Gia H2 cho anh H nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Hoàng H đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp, hòa giải và được triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có văn bản ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ do đương sự cung cấp:
- Trích lục kết hôn: Bùi Thị Bích T – Nguyễn Hoàng H ngày đăng ký 24/8/2012 tại UBND xã Phong M1, huyện Cao L (Bản sao);
- Trích lục khai sinh Nguyễn Ngọc Gia H2 (Bản sao);
- Đơn xin xác nhận ngày 11/7/2018 của chị Bùi Thị Bích T, được Công an xã Phong M1, huyện Cao L, tỉnh Đồng Tháp xác nhận ngày 11/7/2018 (bản chính).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1.Về tố tụng:
Chị Bùi Thị Bích T có đơn yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng H. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân gia đình - Ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung”.
Anh Nguyễn Hoàng H là người bị kiện có địa chỉ tại ấp B, xã Phong M1, huyện Cao L, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.
Chị Bùi Thị Bích T là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Hoàng H là bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H chung sống với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phong M1, huyện Cao L vào ngày 24/8/2012. Như vậy có căn cứ xác định hôn nhân của chị T và anh H là hợp pháp. Sau thời gian chung sống thì nay chị T yêu cầu ly hôn vì cho rằng hôn nhân không thể tiếp tục, sống chung không còn hạnh phúc, vợ chồng thường cự cãi, bất đồng ý kiến đến mức đã xa hơn một năm nay. Về phía anh H là bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các thông báo của tòa án nhưng không có ý kiến, không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa. Như vậy, có căn cứ nhận định anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn giữa vợ chồng như chị T trình bày là có thật và đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H2, sinh ngày 19/3/2013, hiện đang sống chung với anh H. Chị T đồng ý giao con chung cho anh H nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con. Phía anh H không có ý kiến về việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con và hiện nay con chung cũng đang sống chung với anh H. Xét thấy, việc con chung đang sống với anh H có đủ điều kiện và phát triển tốt nên chị T giao cho anh H nuôi là sự tự nguyện. Nếu anh H có yêu cầu cấp dưỡng sẽ giải quyết trong vụ kiện khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T.
Chị Bùi Thị Bích T được quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí - lệ phí Tòa án chị T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo Biên lai số 0000338 ngày 20/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí - lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Bùi Thị Bích T.
1. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng H.
2. Về con chung:
Anh Nguyễn Hoàng H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H2, sinh ngày 19/3/2013. Chị Bùi Thị Bích T không phải cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung, do anh H không có yêu cầu.
Chị Bùi Thị Bích T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
4. Về nợ chung: Không có.
Về án phí: Chị Bùi Thị Bích T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0000338 ngày 20/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS HCL; - Toà án Tỉnh; - UBND xã Phong M1; - Lưu: HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa (Đã ký) Trần Văn Đô |