vanban.org

Bản án 75/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Tuyên án 13/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã đƣợc sửa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Van L - Bị truy tố tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƯƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2017/HSST
Ngày 13 - 12 - 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Xuân Hƣớng

2. Bà Đoàn Thị Duyên

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xƣơng tỉnh Thái Bình xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 75/2017/HSST ngày 23/11/2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 76/2017/HSST - QĐ ngày 01 tháng 12 năm 2017 đối với:

Bị cáo Trần Văn L, sinh ngày 02/9/1983 tại Xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.

Nơi cƣ trú: thôn C, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình; số CMND: 151809841; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; con ông Trần Văn Á và bà Đỗ Thị T (đã chết); có vợ là Hoàng Thị H và có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012;

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 06/4/2009, Công an huyện Kiến Xƣơng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 74 về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền 500.000 đồng. Đã nộp tiền vào ngày 20/11/2009.

Bị tạm giữ từ ngày 12/9/2017 đến ngày 15/9/2017 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xƣơng. Bị cáo đƣợc trích xuất, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 12/9/2017 tại khu vực trạm thu phí đƣờng 458 thôn Đông Thành xã Bình Minh huyện Kiến Xƣơng tỉnh Thái Bình, Công an huyện Kiến Xƣơng bắt quả tang Trần Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 03 gói ma túy.

Quá trình điều tra L khai: Do nghiện ma túy, khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/9/2017, L đi xe mô tô màu nâu, nhãn hiệu Conifer, biển kiểm soát 75F4 - 0150 từ nhà đến khu vực cầu Sam xã Vũ Phúc thành phố Thái Bình, mua 03 gói ma túy với giá 400.000 đồng của một ngƣời đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua đƣợc ma túy, L cất giấu tại túi quần đang mặc phía trƣớc bên trái 01 gói ma túy và tại gấu quần đang mặc bên trái 02 gói ma túy rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi về đến khu vực trạm thu phí đƣờng 458 thuộc địa phận thôn Đông Thành xã Bình Minh huyện Kiến Xƣơng tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an huyện Kiến Xƣơng phát hiện và yêu cầu kiểm tra. Trƣớc sự chứng kiến của 3 ngƣời, tổ công tác đã thu giữ 01 gói ma túy tại túi quần đang mặc phía trƣớc bên trái và 02 gói ma túy tại gấu quần đang mặc bên trái của L, cả ba gói ma túy bên ngoài đều đƣợc gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong là chất bột màu trắng đục dạng cục, L khai nhận đó là Hêrôin vừa mua về để sử dụng cho bản thân nhƣng chƣa kịp sử dụng thì bị bắt. Tổ công tác Công an huyện Kiến Xƣơng kiểm tra xe mô tô nhãn hiệu Conifer biển kiểm soát 75F4- 0150 nhƣng không thu giữ gì. Tổ công tác đã yêu cầu L và mời ngƣời chứng kiến về trụ sở UBND xã Bình Minh để lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, lập biên bản quản lý và niêm phong vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 365/KLGĐ - PC 54 ngày 12/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định thu của Trần Văn L, sinh năm 1983 trú tại thôn C, xã Q, huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình là ma túy, loại Heroine, có trọng lƣợng là 0,3603 gam”.

Vật chứng của vụ án:

- 0,3603 gam Hêrôin thu của L, sau giám định còn 0,3458 gam trong phong bì niêm phong số 365/KLGĐ ngày 12/9/2017 chuyển Chi cục thi hành án dân sự quản lý theo quy định pháp luật.

- Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Conifer màu nâu, biển kiểm soát 75F4 - 0150 mà bị cáo L điều khiển đi mua ma túy là tài sản của bị cáo, Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng quản lý và ngày 31/10/2017 đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Hoàng Thị H là vợ bị cáo Trần Văn L.

Tại bản Cáo trạng số 76/KSĐT - ngày 21/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình đã truy tố Trần Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14: Xử phạt bị cáo Trần Văn L mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc 0,3603 gam Hêrôin, Trần Văn L khai mua của một ngƣời đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ với giá 400.000 đồng tại khu vực cầu Sam xã Vũ Phúc thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, do không xác định đƣợc ngƣời bán nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 75F4- 0150 thu của Trần Văn L, đây là tài sản của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho vợ bị cáo là chị Hoàng Thị H, sinh năm 1985, trú tại thôn C, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình là có căn cứ.

Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự 1999; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu của Trần Văn L 0,3458 gam Hêrôin còn lại sau khi đã giám định trong bao niêm phong số 365/KLGĐ để tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo, sớm trở thành ngƣời công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo Trần Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng.

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn L còn đƣợc chứng minh bằng các chứng cứ sau đây:

- Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang do Công an huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình lập ngày 12/9/2017: Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 12/9/2017 tại khu vực trạm thu phí trên đƣờng 458 đoạn qua địa phận thôn Đông Thành - Bình Minh - Kiến Xƣơng, Tổ công tác Công an huyện Kiến Xƣơng kiểm tra theo thủ tục hành chính đối với Trần Văn L đã phát hiện và thu giữ tại túi quần đang mặc phía trƣớc bên trái của L 01 gói nhỏ, thu tại gấu quần đang mặc bên trái của L 02 gói nhỏ, cả ba gói bên ngoài đƣợc gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng đục dạng cục, L khai nhận đó là Hêrôin vừa mua về để sử dụng cho bản thân nhƣng chƣa kịp sử dụng thì bị bắt (Bút lục 03 - 04).

- Biên bản quản lý và niêm phong vật chứng do Công an huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình lập hồi 13 giờ 45 phút ngày 12/9/2017: Thu giữ tại túi quần đang mặc phía trƣớc bên trái của Trần Văn L 01(một) gói nhỏ và thu tại gấu quần dài đang mặc phía trƣớc bên trái của Trần Văn L 02 gói nhỏ, cả ba gói bên ngoài đều bọc bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. L khai nhận đây là gói ma túy (Heroine) của L vừa mua về để sử dụng cho bản thân. 03 gói nhỏ trên đƣợc niêm phong trong một phong bì trắng viền xanh đỏ, mặt trƣớc ghi: Vật chứng thu giữ của Trần Văn L, SN 1983 thôn Cao Mại - Quang Hƣng - Kiến Xƣơng

- Thái Bình.…” (Bút lục 06).

- Biên bản ghi lời khai của những ngƣời chứng kiến là: Anh Bùi Xuân M sinh năm 1972 trú tại thôn Đ xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; anh Đặng Văn L sinh năm 1976, trú tại thôn 7A xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình và anh Nguyễn Duy T sinh năm 1979, trú tại thôn 7B xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình là những ngƣời chứng kiến việc Tổ công tác Công an huyện Kiến Xƣơng kiểm tra, thu giữ 03 gói ma túy tại túi quần đang mặc phía trƣớc bên trái và gấu quần đang mặc phía trƣớc bên trái của Trần Văn L, L khai đó là ma túy mua về sử dụng cho bản thân nhƣng chƣa kịp sử dụng thì bị bắt (Bút lục 38 - 40).

- Kết luận giám định số số 365/KLGĐ - PC 54 ngày 12/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu của Trần Văn L là ma túy, loại Heroine, có trọng lƣợng là 0,3603 gam (Không phẩy ba nghìn sáu trăm linh ba gam) (Bút lục 10).

Từ những căn cứ nêu trên có đủ căn cứ để xác định: Hồi 12 giờ 35 phút ngày 12/9/2017, tại khu vực trạm thu phí đƣờng 458 thôn Đông Thành xã Bình Minh huyện Kiến Xƣơng tỉnh Thái Bình, Trần Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 03 gói ma túy loại Herôin có trọng lƣợng 0,3603 gam tại túi quần đang mặc phía trƣớc bên trái và tại gấu quần đang mặc phía trƣớc bên trái, nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Trần Văn L đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

BLHS năm 1999: Điều 194. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý quy định:

"1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

BLHS năm 2015: Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy đinh:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

c) Hêrôin, Côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Nhƣ vậy quy định của BLHS năm 2015 về hình phạt đối với tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã giảm so với BLHS năm 1999.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015, điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 thì các quy định có lợi đƣợc áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trƣớc khi điều luật có hiệu L thi hành. Do vậy cần áp dụng quy định có lợi cho bị cáo theo các quy định nêu trên.

Xét tính chất, mức độ và hậu quả của vụ án thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn L là nghiêm trọng, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nƣớc đối với các chất ma túy, gây nguy hại lớn cho xã hội. Vì tệ nạn ma tuý đang là hiểm hoạ cho toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con ngƣời, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Mặt khác, xét thấy năm 2009 bị cáo L bị Công an huyện Kiến Xƣơng xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi đánh bạc, nhƣng bị cáo không chịu cải tạo giáo dục mà tiếp tục phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” là thể hiện ý thức coi thƣờng pháp luật của bị cáo. Vì vậy cần xử phạt nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội trong một thời gian, có nhƣ vậy mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xét đến trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Văn L là phù hợp với quy định của pháp luật.

Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xét thấy, về nguồn gốc 0,3603 gam Hêrôin, Trần Văn L khai mua của một ngƣời đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ với giá 400.000 đồng tại khu vực cầu Sam xã Vũ Phúc thành phố Thái Bình tỉnh Thái Bình, do không xác định đƣợc ngƣời bán nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.

Về xử lý vật chứng:

0,3603 gam Herôin thu giữ của bị cáo, sau khi giám định còn 0,3458 gam là chất ma túy Nhà nƣớc cấm lƣu hành, vì vậy cần tịch thu để tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 41 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS.

Xét thấy việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho chị Hoàng Thị H là vợ bị cáo Trần Văn L chiếc xe mô tô màu nâu, nhãn hiệu Conifer biển kiểm soát 75F4- 0150 vì xác định đây là tài sản của bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn L phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14:

Xử phạt bị cáo Trần Văn L 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/9/2017.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

-Tịch thu của Trần Văn L 0,3458 gam Hêrôin còn lại sau khi đã giám định trong phong bì niêm phong số 365/KLGĐ để tiêu hủy (theo Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xƣơng lập ngày 23/11/2017).

- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng đã trả lại chiếc xe mô tô màu nâu nhãn hiệu Conifer, biển kiểm soát 75F4 - 0150 cho vợ bị cáo là chị Hoàng Thị H, sinh năm 1985, trú tại thôn C, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.

4. Án phí: Áp dụng Điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Trần Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/12/2017.

Cỡ chữ