vanban.org

Bản án 746/2026/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 13/07/2026 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/07/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Văn Đ. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2026/DS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị N - Hồ Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 746/2026/DS-PT
Ngày: 13.7.2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Phương Thanh Các thẩm phán:

Ông Võ Bảo Anh

Bà Trịnh Thị Bích Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 13 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án thụ lý số 942/2026/TLPT-DS ngày 17 tháng 6 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2026/DS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1102/2026/QĐ-PT ngày 22 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1984 (có mặt)

Địa chỉ: Số I, ấp X, xã T, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Hồ Văn Đ, sinh năm 1951 (có mặt)

Địa chỉ: Số C, ấp X, xã T, thành phố Cần Thơ.

- Người kháng cáo: ông Hồ Văn Đ là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau: Do quen biết, ông Hồ Văn Đ có nhờ bà mượn số tiền 44.000.000 đồng vào ngày 20/8/2022, tiền lãi mỗi tháng 2.000.000 đồng. Ông Đ có đưa bà bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp và làm tin. Ông Đ cam kết thanh toán số tiền gốc và lãi để lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đến ngày 08/9/2025 đã 03 năm mà ông Đ vẫn không thực hiện. Nay bà yêu cầu ông Hồ Văn Đ trả tổng số tiền là 98.000.000 đồng, bao gồm tiền gốc 44.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 08/9/2025 là 54.000.000 đồng.

Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà N, bị đơn ông Đ có ý kiến như sau: ông chỉ đồng ý trả 22.000.000 đồng.

Vụ việc hòa giải không thành nên được đưa ra xét xử sơ thẩm công khai. Tại Bản án sơ thẩm số 76/2026/DS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N

2. Buộc ông Hồ Văn Đ trả cho bà Nguyễn Thị N tổng số tiền tính đến ngày 08/9/2025 là 70.918.000 đồng trong đó tiền gốc là 44.000.000 đồng, tiền lãi là 26.918.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đếnkhi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiềncòn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luậtDân sự năm 2015.

3. Buộc bà Nguyễn Thị N trả cho ông Hồ Văn Đ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 251264, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 000093.QSDĐ, do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Cần Thơ cấp ngày 01/11/1995 cho ông Hồ Văn Đ đứng tên quyền sử dụng đất.

4. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 13 tháng 5 năm 2026 bị đơn ông Đ kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử xem xét lại bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý kháng cáo của bị đơn ông Đ.

- Bị đơn ông Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nhưng chỉ đồng ý trả bà N 10.000.000đ

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

+ Về nội dung: Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm và xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ, có căn cứ xác định ông Đ có vay của bà N số tiền 44.000.000đ có làm biên nhận nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Đ. Đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của ông Hồ Văn Đ: Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, có cơ sở xác định: Ông Hồ Văn Đ có vay tiền của bà N có làm biên nhận ký nhận số tiền 44.000.000 đồng. Ông Đ cho rằng chỉ vay bà N 10.000.000 đồng và tiền lãi cộng vào mới ra số tiền nhiều nhưng không có chứng cứ chứng minh được cho lời trình bày của mình, bà N không thừa nhận nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến trả 10.000.000 đồng của ông Đ. Do ông Hồ Văn Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà N yêu cầu ông Đ trả tiền gốc 44.000.000 đồng và tiền lãi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Đ.

Với những nhận định trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đúng quy định pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ và chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà N là đúng nên giữ nguyên.

Về phần án phí:

Sơ thẩm: ông Đ không phải chịu do là người cao tuổi.

Phúc thẩm: ông Đ không phải chịu do là người cao tuổi.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Văn Đ.

- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2026/DS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ.

- Về án phí phúc thẩm: Ông Hồ Văn Đ được miễn

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ