- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Xuân P.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 741/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30-5-2022 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Thanh
2. Ông Trần Văn Triều
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Xuân Hồng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 150/2021/TLST-HNGĐ ngày 07/5/2021 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1369/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2022, và Quyết định hoãn phiên tòa số 4815/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Ông Trần Xuân P, sinh năm 1976
Địa chỉ: B P, Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Huynh Thi Hoan B, sinh năm 1966
Quốc tịch: Úc.
Địa chỉ: Australia.
(Ông Trần Xuân P có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bà Huynh Thi H Bich vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 26/3/2021 và các lời khai trong quá trình tố tụng:
*. Nguyên đơn ông Trần Xuân P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Huynh Thi Hoan B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thành phố H và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 2641, Quyển số 09, ngày 11/8/2008. Sau khi kết hôn hai người chung sống với nhau được một thời gian ngắn, do điều kiện công việc nên bà Huynh Thi H Bich trở về Úc, còn ông ở lại Việt Nam. Sau khi bà H1 Thi Hoan Bich trở về Úc, hai người không có điều kiện gặp nhau, mà chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại, bản thân bà Huynh Thi Hoan B cũng không trở lại Việt Nam thăm hỏi ông. Từ đó tình cảm giữa ông và bà Huynh Thi Hoan B phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn được, nay hai người không còn liên lạc với nhau. Ông xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với bà Huynh Thi Hoan B.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Vì bận việc, bà yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
*. Đối với bị đơn: Bà Huynh Thi Hoan B trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo ngày giờ và địa điểm mở phiên họp hòa giải, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến Tòa án tối cao của bang V, Ô-xtơrây-li-a theo địa chỉ của bị đơn do nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, yêu cầu bà Huynh Thi H Bich có văn bản gửi Tòa án trình bày ý kiến về việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn (theo hồ sơ ủy thác tư pháp số 531/TTTPDS-TA30 ngày 12/7/2021). Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có văn bản đề nghị Tòa án tối cao của bang V, Ô-xtơrây-li-a thực hiện các công việc cần thiết để thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định. Đến ngày mở phiên tòa như đã định tại thông báo gửi đương sự, Tòa án không nhận được các văn bản: Như lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước ngoài và bị đơn vắng mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Ngày 07/12/2021, tòa án có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp thông báo về kết quả thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho bà Huynh Thi Hoan B (Công văn số 195/TATP-TGĐVNCTN), nhưng đến nay vẫn không nhận được kết quả. Ngày 28/02/2022, Tòa án có Công văn số 136/TA-TB đề nghị Đ tại Ô-xtơrây-li-a thực hiện thông báo đăng trên cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán theo quy định để thông báo ngày, giờ, địa điểm mở phiên họp hòa giải, phiên tòa đối với bà Huynh Thi Hoan B; Hết thời hạn thông báo, bà Huynh Thi Hoan B vẫn không liên hệ với Tòa án để giải quyết vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện của ông Trần Xuân P.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về địa vị tố tụng và đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về nội dung, Kiểm sát viên phân tích yêu cầu của nguyên đơn xin ly hôn bị đơn là phù hợp và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Xuân P, Hội đồng xét xử nhận thấy ông P và bà Huynh Thi Hoan B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn hiện cư trú tại Ô-xtơrây-li-a nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu cung cấp bản khai, thông báo ngày, giờ, địa điểm xét xử nhưng đến thời điểm xét xử Tòa án vẫn không nhận được phản hồi của bị đơn. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Xét yêu cầu của ông Trần Xuân P yêu cầu ly hôn bà Huynh Thi Hoan B, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của ông P thì ông và bà Huynh Thi Hoan B chung sống không hạnh phúc. Từ khi kết hôn cho đến nay, ông P và bà Huynh Thi Hoan B không có quá trình chung sống lâu dài, do xa cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay ông P và bà Huynh Thi Hoan B đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, ông Trần Xuân P yêu cầu ly hôn với bà Huynh Thi H Bich là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung ông Trần Xuân P khai không có; nên tòa án không xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho ông Trần Xuân P ly hôn với bà H1 Thi Hoan Bich là phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, ông Trần Xuân P phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 5 Điều 477, khoản 3 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 121 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Xuân P.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Xuân P được ly hôn với bà Huynh Thi Hoan B1.
Giấy chứng nhận kết hôn số 2641, Quyển số 09, ngày 11/8/2008 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp cho ông Trần Xuân P và bà Huynh Thi Hoan B không còn giá trị pháp lý.
1.2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung ông Trần Xuân P khai không có; nên tòa án không xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, ông Trần Xuân P phải chịu và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà ông P đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2019/0094033 ngày 06/5/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Trần Xuân P đã nộp đủ tiền án phí.
3. Ông Trần Xuân P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án, bà Huynh Thi H Bich được quyền kháng cáo trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - UBND TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Duyên |