vanban.org

Bản án 74

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 21/09/2018 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị H, Vũ Thúy H1, Dương Xuân T, Lê Thị Thanh Th, sửa b n án sơ thẩm.

Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị H 30.000.000đ; bị cáo Dương Xuân T 30.000.000đ; bị cáo Vũ Thúy H1 30.000.000đ; bị cáo Lê Thị Thanh Th 30.000.000đ để sung quỹ nhà nước. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, khá…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Thị H "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị H, Vũ Thúy H1, Dương Xuân T, Lê Thị Thanh Th, sửa b n án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật T tụng hình sự
M

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án s : 74/2018/HS-PT
Ngày: 21-9-2018

NHÂN DANH

M

TÒA ÁN NHÂN DÂN T

M NG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Hoàng Thị Minh ương

Các Thẩm phán:

Ông Huỳnh ăn iệp

Ông Huỳnh Châu Th ch

- Thư ký phiên tòa: Bà à hị ương - là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị à - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 100/2018/HSPT ngày 29/8/2018 đ i với bị cáo Nguyễn Thị H cùng đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đ i với b n án hình sự sơ thẩm s 53/2018/HS-ST ngày 27/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Thị H, sinh năm 1972 tại Hà Nội; nơi cư trú: thôn Liên Trung, xã Tân Hà, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: lớp 6/12; giới tính: nữ; qu c tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Thiên chúa; con ông Nguyễn Bá M (đã chết) và bà Doãn Thị N (đã chết); cH Trần Anh V và có 03 người con; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/02/2018 đến ngày 09/02/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Có mặt.

2. ương uân , sinh năm 1987 tại Nghệ An; nơi ĐKHKTT: xóm Đức Thọ, xã Hưng Lộc, thành ph V, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: thôn Liên Trung, xã Tân Hà, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 11/12; giới tính: nam; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; con ông Dương Xuân K (đã chết) và bà Uông Thị T; vợ Lưu Kim L và có 01 người con; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: b n án s 400/2005/HSST ngày 28/09/2005 của Tòa án nhân dân thành ph V, tỉnh Nghệ An xử phạt 30 tháng tù về tội “Phá hủy công trình phương tiện quan trọng về an ninh qu c gia”;

Bị cáo bắt tạm giam từ ngày 01/02/2018 đến ngày 09/02/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn b o lĩnh, hiện đang tại ngoại. Có mặt.

3. ũ h y 1, sinh năm 1981 tại Nam Định; nơi cư trú: thôn Phúc Thọ 1, xã Tân Hà, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: thợ may; trình độ văn hóa: lớp 01/12; giới tính: nữ; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; con ông Vũ Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ; cH Phan Lạc K và có 04 người con; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/02/2018 đến ngày 09/02/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Có mặt.

4. Lê Thị Thanh Th, sinh năm 1995 tại Qu ng Ngãi; nơi cư trú: thôn Liên Hà 2, xã Liên Hà, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: lớp 8/12; giới tính: nữ; qu c tịch: Việt Nam; con ông Lê Công P và bà Dương Thị Tuyết N; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/02/2018 đến ngày 09/02/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Có mặt.

Trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Sỹ D, Lê Quốc H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lưu Kim L không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị.

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào 21 giờ 30 phút ngày 31/01/2018, Công an xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng kiểm tra phòng trọ s 08 do Dương Xuân T thuê trọ thuộc thôn Liên Trung, xã Tân Hà, huyện Lâm Hà phát hiện bắt qu tang các đ i tượng đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào t liêng được thua thắng bằng tiền, bao gồm: Dương Xuân T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Sỹ D, Vũ Thúy H1, Lê Thị Thanh Thủy, Lê Qu c H.

Tang vật thu giữ gồm: s tiền 14.120.000 đồng; trong đó thu giữ trên chiếu bạc s tiền 7.680.000đ, thu giữ trên người các đ i tượng 6.440.000đ; 01 bộ bài tú lơ khơ; 01 chiếu cói; 04 điện thoại di động.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: vào kho ng 18 giờ 30 phút ngày 31/01/2018, Nguyễn Thị H đến nhà Vũ Thúy H1 chơi và rủ H1 đến dãy phòng trọ của gia đình ông T ở thôn Liên Trung, xã Tân Hà, huyện Lâm Hà để đánh bạc thắng thua bằng tiền. Sau đó, H1 điện thoại rủ Lê Thị Thanh Th đi chơi bài cùng. Khi đến dãy phòng trọ của gia đình ông Tuất thì H1 và Th rủ H ghé phòng trọ s 08 do vợ cH Dương Xuân T và Lưu Kim L thuê. Tại đây, H và H1 nói Lý đi mua bài về để đánh cho vui thì Lý đồng ý và đi mua về 03 bộ bài tú lơ khơ. H, H1, Th chơi đến kho ng 19 giờ thì có một người đàn ông tên H qua phòng L và tham gia đánh bạc cùng với H, H1 và Th; còn L thì bế con nhỏ ngồi trên giường xem điện thoại và thỉnh tho ng bế con ra ngoài chơi. Kho ng 19 giờ 30 phút thì Nguyễn Sỹ D và Lê Xuân T đến cùng tham gia đánh bạc. Kho ng 19 giờ 45 phút thì người đàn ông tên H không chơi nữa và về trước. Kho ng 20 giờ thì Lê Qu c H đến cùng đánh bạc.

Hình thức chơi của các đ i tượng như sau: trước khi tham gia chơi người chơi ph i bỏ ra s tiền 10.000đ gọi là tiền nước; bắt đầu ván bài, mỗi người chơi sẽ được chia đều 03 lá; sau khi xem bài người chơi có một trong các lựa chọn: Úp bài, nếu thấy bài không thể thắng thì sẽ bị mất s tiền cược ban đầu và kết thúc ván bài đó; theo bài, người chơi đặt tiền đúng bằng s tiền của người chơi cửa trước đặt; t bài, người chơi đặt thêm tiền cược cao hơn s tiền của những người cửa trên đã đặt. Sau khi mọi người đặt tiền cược, người nào có bài điểm cao nhất sẽ là người thắng. S tiền t t i thiểu mỗi lần là 20.000đ, t i đa là 200.000đ. Quá trình đánh, tất c người chơi tự quy định khi ai thắng từ 200.000đ trở lên thì bỏ ra 10.000đ để mua nước u ng.

Thứ tự bài thắng thua được quy định như sau: lớn nhất là trong 3 lá có 3 lá gi ng nhau gọi là “Sáp” (lớn nhất là ba lá Át, nhỏ nhất là ba lá 2). Liêng là ba lá bài liên tiếp nhau (lớn nhất là Q, K, A; nhỏ nhất A, 2, 3); khi có hai liêng bằng nhau thì tìm ra cây có chất cao nhất để so sánh, chất cao nhất theo thứu tự là cơ, rô, chuồn, bích. Ba tây, khi có 3 lá bài đều là tây. Điểm được tính là lấy các s trên lá bài cộng vào với nhau và chỉ lấy s cu i của tổng các s . Trong đó, Át tính bằng 1 và các lá bài hình người tính bằng 10, nếu bài có s điểm bằng nhau thì bài nào có hai con gi ng nhau lớn hơn, sau đó đến bài nào có chất lớn hơn thì mới lớn hơn.

Quá trình đánh bạc, Nguyễn Thị H mang theo s tiền 3.000.000đ để đánh bạc; Nguyễn Sỹ D mang theo 4.630.000đ để đánh bạc; Vũ Thúy H1 mang theo s tiền 1.090.000đ để đánh bạc; Lê Qu c H mang theo s tiền 1.610.000đ để đánh bạc; Dương Xuân T mang theo s tiền 1.200.000đ để đánh bạc; Lê Thị Thanh Th mang theo 850.000đ để đánh bạc. Tổng s tiền các bị cáo khai nhận mang theo để đánh bạc là 12.380.000đ. Khi bắt qu tang thu được trên chiếu bạc và trên người các bị cáo là 14.120.000đ.

Tại b n cáo trạng s 52/VKS-TA ngày 29 tháng 6 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy t các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Sỹ D, Vũ Thúy H1, Lê Qu c H, Dương Xuân T, Lê Thị Thanh Th về tội “Đánh bạc” theo quy định tại kho n 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

B n án s 53/2018/HS-ST ngày 27/7/2018, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà tuyên b các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Sỹ D, Vũ Thúy H1, Lê Qu c H, Dương Xuân T, Lê Thị Thanh Th phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng kho n 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm i, s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2018 đến ngày 09/02/2018.

- Áp dụng kho n 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm i, s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Vũ Thị H1, bị cáo Lê Thị Thanh Th mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2018 đến ngày 09/02/2018.

- Áp dụng kho n 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Dương Xuân T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2018 đến ngày 09/02/2018.

- Áp dụng kho n 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; điểm i, s kho n 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Phạt tiền bị cáo Nguyễn Sỹ D, bị cáo Lê Qu c H mỗi bị cáo 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

B n án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 01/8/2018 các bị cáo Lê Thị Thanh Th, Vũ Thúy H1 kháng cáo xin phạt tiền.

Ngày 07/8/2018 các bị cáo Nguyễn Thị H, Dương Xuân T kháng cáo xin phạt tiền.

Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thắng, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo còn lại, chuyển sang hình phạt tiền mỗi bị cáo từ 30.000.000đ đến 35.000.000đ.

Ậ Ị

:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào kho ng 18 giờ 30 phút ngày 31/01/2018, Nguyễn Thị H đến nhà Vũ Thúy H1 chơi và rủ H1 đến phòng trọ s 08 do vợ cH Dương Xuân T và Lưu Kim L thuê. Tại đây, H và H1 nói Lý đi mua bài về để đánh cho vui, đến 21 giờ 30 phút thì bị Công an xã Tân Hà, huyện Lâm Hà kiểm tra, bắt qu tang các đ i tượng tham gia đánh bạc gồm H, H1, Th, Thắng, Duân, Hân. Khi bắt qu tang thu được trên chiếu bạc và trên người các bị cáo là 14.120.000đ. Tổng s tiền các bị cáo khai nhận mang theo để đánh bạc là 12.380.000đ.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, biên b n bắt người phạm tội qu tang, tang vật thu giữ và những chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” quy định tại kho n 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo:

Các bị cáo H, Th, H1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khển khai báo, có nhân thân t t, có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú rõ ràng, việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Đ i với bị cáo Thắng tuy đã từng bị xét xử về hành vi phá hủy công trình phương tiện quan trọng về an ninh qu c gia (cắt trộm dây điện lấy lõi đồng) nhưng đã trên 12 năm nên áp dụng hình phạt tiền như các bị cáo khác trong vụ án cũng phù hợp. Do vậy, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa b n án sơ thẩm.

[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾ ỊNH:

Căn cứ điểm b kho n 1, kho n 2 Điều 355; điểm đ kho n 1 Điều 357 Bộ luật T tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị H, Vũ Thúy H1, Dương Xuân T, Lê Thị Thanh Th, sửa b n án sơ thẩm.

Căn cứ kho n 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm i, s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị H 30.000.000đ; bị cáo Dương Xuân T 30.000.000đ; bị cáo Vũ Thúy H1 30.000.000đ; bị cáo Lê Thị Thanh Th 30.000.000đ để sung quỹ nhà nước.

Căn cứ Điều 135 Bộ luật T tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội về án phí và lệ phí tòa án. Các bị cáo Nguyễn Thị H, Vũ Thúy H1, Dương Xuân T, Lê Thị Thanh Th không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ