vanban.org

Bản án 74

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Hữu Sơn - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TßA ¸N NH¢N D¢N
HuyÖn pT, TP hµ néi

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------
B¶n ¸n sè: 74/2020/HS -ST
Ngµy: 23 - 12 - 2020
Nh©n danh

N­íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam

Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn pT, thµnh phè hµ néi

Víi!thµnh!phÇn!Héi!®ång!xÐt!xö!s¬!thÈm!gåm!cã:!

!

- ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: !!Bµ §Æng!ThÞ!BÝch!Loan

- C¸c Héi thÈm nh©n d©n:

Bà Trần"Thị"Thanh

"""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""Ông"Nguyễn"Thái"Học!

- Thư"ký"phiên"toà:"Bà Ngô"Thị"Mơ, Thư ký Toà án nhân dân huyện PT, Thành phố Hà Nội." """"""""""-"Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"huyện"PT,"Thành"phố"Hà"Nội"tham"gia"phiªn tßa: Ông Nguyễn"Công"Hòa"-"Kiểm sát viên.!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

Ngµy 23 th¸ng 12 n¨m 2020, t¹i trô së Tßa ¸n nh©n d©n huyÖn PT, Thµnh phè Hµ Néi xÐt xö s¬ thÈm vô ¸n h×nh sù thô lý sè 73/2020/HSST ngµy 18 th¸ng 11 n¨m 2020 ®èi víi bÞ c¸o:

Nguyễn"Hữu"S, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Thôn Ân Phú, xã XĐ, huyện PT, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa lớp 8/12; con ông Nguyễn Hữu S và bà Hà Thị T; vợ con chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 29/8/2014, bị Tòa án nhân dân huyện PT xử 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 14/4/2018 (chưa thi hành phần án phí và bồi thường dân sự).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2020 đến nay, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.

- Người"có"quyền"lợi"nghĩa"vụ"liên"quan:

+ Anh Đoàn Văn D, sinh năm 1999; vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Bảo Lộc 4, xã VX, huyện PT, Thành phố Hà Nội.

- Người"làm"chứng:

+ Chị Khuất Thị Hồng N, sinh năm 1998; vắng mặt

Địa chỉ: Thôn Phù Long 2, xã LX, huyện PT, Thành phố Hà Nội

+ Anh Đoàn Văn T, sinh năm 1997; vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Bảo Lộc 1, xã VX, huyện PT, Thành phố Hà Nội.

"NỘI"DUNG"VỤ"ÁN:"

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 07/8/2020, Công an xã LX , huyện PT làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn xã, khi đến khu vực thôn Bảo Vệ 1, xã LX, huyện PT phát hiện thấy Nguyễn Hữu S đang đứng một mình, có biểu hiện nghi vấn phạm pháp hình sự, nên tổ công tác áp sát yêu cầu kiểm tra hành chính. Biết không thể che giấu được, nên Nguyễn Hữu S đã tự giác giao nộp cho Công an xã LX 01(một) túi nilon màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, S khai nhận là ma túy “đá”, mục đích vừa để sử dụng vừa bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng, đưa S về trụ sở Công an xã LX giải quyết theo quy định của pháp luật.

""Vật"chứng"thu"giữ:"

- 01(một) túi nilon màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, kích thước 3x4cm (thu giữ của Nguyễn Hữu S).

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, có viền đỏ (đã cũ), bên trong lắp một sim liên lạc số Imei 1: 359366094993617, số Imei 2: 359366094993625; (thu giữ của Nguyễn Hữu S).

- Số tiền 50.000đồng (năm"mươi"nghìn"đồng) loại tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành.

Quá trình điều tra, Đoàn Văn D đã giao nộp 01 chiếc điện thoại di động NOKIA màu đen đã cũ, số Imei: 358991096145790 (khai nhận là điện thoại dùng liên lạc với Nguyễn Hữu S để hỏi mua ma túy).

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện PT ra Lệnh khám xét khẩn ấp chỗ ở của Nguyễn Hữu S, tại thôn Ân Phú, xã XĐ, huyện PT, Thành phố Hà Nội. Quá trình khám xét Cơ quan điều tra không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Ngày 07/8/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện PT ra quyết định trưng cầu giám định 01(một) gói nilon kích thước 3x4cm có chứa các hạt tinh thể màu trắng, đã được niêm phong trong phong bì dán kín (thu của Nguyễn Hữu S).

Tại Kết luận giám định số 7332/KLGĐ- PC09 ngày 14/08/2020 của Phòng PC09, Công an Thành phố Hà Nội, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01(một) túi nilon kích thước (3x4cm) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,501 gam.

Quá trình điều tra Nguyễn Hữu S"khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 05/8/2020, S gọi điện thoại vào số 0982407443 của một người tên H hỏi mua 1.500.000đồng tiền ma túy đá. H đồng ý và bảo S đi theo đường Quốc lộ 32 đến gần Sơn Tây thì đứng đợi ở ven đường. Sau đó S đi bộ ra đường Quốc lộ 32 gần cổng chào huyện PT, bắt xe ôm đi lên thị xã Sơn Tây, khi đi đến đoạn đường thuộc khu vực thôn 3, xã TG, huyện PT, thì gặp H đang ngồi đợi ở một quán nước ven đường. S xuống xe đến gặp H và đưa cho H 1.500.000đồng, H cầm tiền và gọi điện thoại, một lúc sau có một người đàn ông đi xe máy Wave mặc áo xe ôm Grab đến gặp H. Người này đưa cho H 01(một) gói ma túy, rồi H cầm đưa lại cho S. S cầm gói ma túy cất vào túi quần đang mặc rồi quay ra chỗ người xe ôm đang đợi và đi về, khi đến đoạn đường rẽ vào xã LX thì S xuống xe. Sau đó, S đi bộ một mình ra cánh đồng xã LX, lấy một ít ma túy ra sử dụng, xong về nhà. Đến khoảng hơn 21 giờ ngày 05/8/2020, thì thấy Đoàn Văn D, sinh năm 1999, ở thôn Bảo Lộc 4, xã VX, huyện PT gọi điện thoại cho S (D sử dụng số điện thoại 0328303513) hỏi mua 300.000đồng tiền ma túy đá. S đồng ý và bảo D chuyển tiền vào tài khoản số 056100629171 của S tại Ngân hàng Vietcombank. Sau khi nhận được số tiền 300.000đồng do D chuyển khoản, thì S lấy ống hút nhựa xúc một ít ma túy từ gói ma túy S mua của H, rồi gói vào gói nilon nhỏ cắt từ túi nilon của vỏ bao thuốc lá và dùng bật lửa hàn kín các mép lại. S mang gói ma túy đó ra khu vực ngã tư sân bóng đầu làng Bảo Vệ 1, xã LX, huyện PT và để gói ma túy vào ô trên cột điện. Sau đó, S đi về. Trên đường về S gọi điện chỉ dẫn cho D ra lấy gói ma túy. Một lúc sau, D điện thoại báo cho S nói là đã lấy được gói ma túy. Đến khoảng 10h30 phút ngày 07/8/2020, S đi bộ đến trước cửa quán bia nhà anh Doãn Văn M tại thôn Bảo Vệ 1, xã LX, huyện PT, đang đứng chơi ở đó thì bị lực lượng Công an đến yêu cầu kiểm tra hành chính, biết không thể trốn tránh được nên S tự giác lấy gói ma túy để trong túi quần phía trước bên trái đang mặc giao nộp cho tổ công tác và khai nhận là ma túy đá.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Hữu S, Cơ quan điều tra Công an huyện PT đã có công văn đề nghị ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) xác minh giao dịch chuyển khoản tiền và phong tỏa đối với tài khoản 0561000629171.

Ngày 14/10/202, Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Lâm Đồng có công văn số 267/LDO.KT, về việc cung cấp thông tin gửi Cơ quan CSĐT Công an huyện PT, nội dung:

1. Hồ sơ tài khoản 0561000629171- KH Nguyễn Hữu S

2. Sao kê tài khoản 0561000629171- KH Nguyễn Hữu S từ ngày 04/8/2020 đến ngày 07/8/2020.

3. Phong tỏa tài khoản 0561000629171.

Bản cáo trạng số 76/CT- VKS ngày 17 tháng 11 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, Thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Hữu S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố Nguyễn Hữu S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Hữu S từ 36 đến 42 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong dán kín của Phòng PC09 Công an Thành phố Hà Nội, Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, có viền đỏ, số Imei 1: 359366094993617, số Imei 2: 359366094993625; 01 chiếc điện thoại di động NOKIA màu đen đã cũ, số Imei: 358991096145790. Truy thu số tiền 300.000.000đ của Nguyễn Hữu S; Trả lại 50.000đ cho bị cáo, nhưng tiếp tục bảo lưu để đảm bảo việc thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN"ĐỊNH"CỦA""TÒA"ÁN:"

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện PT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu S không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu S khai: Khoảng 18 giờ ngày 05/08/2020, S gọi điện cho một người tên H hỏi mua 1.500.000đ tiền ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, S đi xe ôm về đến đoạn đường rẽ vào xã LX thì xuống xe và đi bộ ra cánh đồng xã LX, lấy một ít ma túy ra sử dụng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, S nhận được điện thoại của Đoàn Văn D hỏi mua 300.000đ tiền ma túy đá, S đồng ý và bảo D chuyển tiền vào số tài khoản của S. Sau khi nhận được số tiền 300.000đ của D thì S mang 01 gói ma túy ra khu vực ngã tư sân bóng đầu làng Bảo Vệ 1, xã LX, huyện PT và để gói ma túy vào ô trên cột điện. Trên đường về, S gọi điện chỉ dẫn cho D ra lấy ma túy, một lúc sau D gọi điện cho S nói là đã lấy được gói ma túy.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 05/8/2020, Nguyễn Hữu S mua 01 gói ma túy của một người đàn ông có tên là H (không rõ nhân thân lai lịch cụ thể) với giá 1.500.000đồng, mục đích vừa sử dụng cá nhân vừa bán kiếm lời. Đêm ngày 07/8/2020, Nguyễn Hữu S đang có hành vi cất giấu trái phép 01 túi ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,501 gam, thì bị Công an xã LX , huyện PT bắt quả tang tại khu vực thôn Bảo Vệ 1, xã LX , huyện PT. Quá trình điều tra xác định, khoảng hơn 21 giờ ngày 05/8/2020, S có bán cho Đoàn Văn D, sinh năm 1999 ở thôn Bảo Lộc 4, xã VX, huyện PT 01 gói ma túy với giá 300.000đồng.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Hữu S đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, về tội danh, điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì không những xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, chất gây nghiện, mà còn gây mất trật tự, trị an xã hội tại địa phương. Bởi lẽ, tệ nạn ma túy là một trong những nguyên làm phát sinh và gia tăng tội phạm hình sự, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy, hiện nay Nhà nước và nhân dân ta đang quan tâm tuyên truyền và phòng chống tệ nạn ma túy. Do đó, việc xét xử đối với bị cáo là cần thiết và cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời đáp ứng với yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm ma túy trong giai đoạn hiện nay.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Mặc dù, Ngày 29/8/2014, Nguyễn Hữu S bị Tòa án nhân dân huyện PT xử 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 14/4/2018, chưa được xóa án tích, nhưng không bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” do lần phạm tội đó bị cáo chưa đủ 16 tuổi, nên được coi là không có án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo là người không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng PC 09 Công an Thành phố Hà Nội, bên trong chứa vật chứng, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên, cán bộ công an xã LX và chữ ký của Nguyễn Hữu S. Xét đây là vật liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng do không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen có viền đỏ đã cũ số IMEI I: 359366094993617; IMEI 2: 359366094993625 (thu của Nguyễn Hữu S); 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã cũ, số IMEI: 358991096145790 (do Đoàn Văn D tự giác giao nộp) đều sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 300.000đ do Đoàn Văn D chuyển vào số tài khoản 561000629171 của bị cáo Nguyễn Hữu S. Xác định đây là số tiền liên quan đến việc mua bán ma túy giữa D và S nên cần truy thu nộp Ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 50.000đ tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu của Nguyễn Hữu S. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là tài sản của cá nhân bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, cần bảo lưu để đảm bảo việc thi hành án.

Đối với số tài khoản 0561000629171 của Nguyễn Hữu S tại Ngân hàng Vietcombank, hiện đang bị phong tỏa. Tại phiên tòa, bị cáo khai trong tài khoản của bị cáo không còn tiền, bị cáo cũng không sử dụng giao dịch số tài khoản này nên bị cáo không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về nguồn gốc số ma tuý: Nguyễn Hữu S khai mua ma túy của một người đàn ông có tên là H, nhưng không biết họ tên, tuổi địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

[9] Đối với Đoàn Văn D là đối tượng mua ma túy của Nguyễn Hữu S. Tại Cơ quan điều tra D đã thành khẩn khai nhận hành vi của mình, sau khi mua được ma túy thì D đã sử dụng hết, do không thu được vật chứng nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với D. Công an huyện PT đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối D về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT"ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử"phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu S 30"(Ba"mươi)"tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 07/08/2020.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong của phòng PC09 Công an Thành phố Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên, cán bộ công an xã LX và chữ ký của Nguyễn Hữu S.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen có viền đỏ đã cũ số IMEI I: 359366094993617; IMEI 2: 359366094993625; 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã cũ, số IMEI: 358991096145790. Trả lại cho bị cáo số tiền 50.000đ, nhưng cần bảo lưu để đảm bảo việc thi hành án. (Vật"chứng"do"Chi"cục" Thi" hành" án" dân" sự" huyện" PT" quản" lý" theo" Biên" bản" giao" nhận" vật" chứng" ngày" 20/11/2020"giữa"Công"an"huyện"PT"và"Chi"cục"Thi"hành"án"dân"sự"huyện"PT,"Thành"phố" Hà"Nội."Số"tiền"được"nộp"vào"tài"khoản"theo"Giấy"nộp"tiền"ngày"23/11/2020)."

Truy thu số tiền 300.000đ của bị cáo Nguyễn Hữu S để nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Hữu S phải chịu 200.000 đồng (Hai"trăm"nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.!!

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. N¬i!nhËn!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!t/m héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm! !!- TAND thµnh phè Hµ Néi;

ThÈm!ph¸n!-!Chñ!to¹!phiªn!toµ

- CA, VKSND huyÖn PT;

- CCTHADS huyÖn PT;

- Nh÷ng ng­êi tham gia tè tông;

- L­u hå s¬ vô ¸n. !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!§Æng!ThÞ!BÝch!Loan! !

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

" """

"

"

"

"

"

"

"

"

"""

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

"

" !!

Cỡ chữ