- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sỹ Văn Th - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sỹ Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2026/HS-ST Ngày: 18-5-2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tịnh, ông Phan Văn Sân
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thủy– Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1
- Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tính - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2026/TLST – HS ngày 14/4/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2026/QĐXXST-HS ngày 05/5/2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Sỹ Văn T (tên gọi khác: Không có); Giới tính: Nam, sinh ngày 13 tháng 11 năm 1993, tại xã B, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản T, xã B, tỉnh Lai Châu; Số CCCD: 012093000943, cấp ngày 26/8/2023; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH - Bộ C2; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Sỹ Văn Đ (đã chết) và bà Tao Thị L, sinh năm 1961; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 04 anh chị em bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/3/2026 đến ngày 07/3/2026 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 04/3/2026, Sỹ Văn T một mình đi bộ từ nhà ở thuộc bản T, xã B, tỉnh Lai Châu đi ra khu vực đường T thuộc bản T, xã B, tỉnh Lai Châu tìm mua ma túy để sử dụng. Tại khu vực này, T gặp một người đàn ông khoảng 60 tuổi (không rõ nhân thân lai lịch), nhìn giống người nghiện ma túy nên T đã trao đổi mua ma túy với người đàn ông này. Qua trao đổi, T mua được của người đàn ông nói trên 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng với giá 100.000 đồng. Mua được H, T cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi về nhà để sử dụng ma túy.
Vào hồi 16 giờ 45 phút cùng ngày, khi Sỹ Văn T về đến trước cổng nhà của T thuộc bản T, xã B, tỉnh Lai Châu thì bị tổ công tác Công an xã B phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 2 Phòng C3 Công an tỉnh L phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng là 01 gói Heroine có khối lượng 0,1063 gam T đang tàng trữ để sử dụng.
Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ số chất bột, màu trắng thu giữ của Sỹ Văn T đi giám định. Tại bản kết luận giám định số 249/KL-KTHS ngày 06/3/2026 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Sỹ Văn T có khối lượng 0,1063 gam là ma túy, loại Heroine.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Đã thu giữ, tạm giữ của Sỹ Văn T: 0,1063 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Đối với 0,1063 gam Heroine đã gửi toàn bộ giám định, không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng còn lại chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Lai Châu chờ xử lý.
Cáo trạng số 07/CT- VKSKV1, ngày 13/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lai Châu đã truy tố Sỹ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sỹ Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị:
Xử phạt bị cáo Sỹ Văn T mức án từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2026.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Đối với 0,1063 gam Heroine đã gửi toàn bộ giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề nghị xem xét giải quyết.
- Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Sỹ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Sỹ Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và bị cáo không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn án phí cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai đã khai báo tại cơ quan điều tra về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác cũng như vật chứng thu giữ trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 16 giờ 45 phút ngày 04/3/2026, tại khu vực bản T, xã B, tỉnh Lai Châu, Sỹ Văn T đang tàng trữ trái phép 0,1063 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã B phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 2 Phòng C3 Công an tỉnh L phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo Sỹ Văn T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm: […]
c) Heroine, C, Methamphetamine, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; […]
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lai Châu đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Chúng ta đều biết ma túy là chất gây nghiện độc hại phá hủy trực tiếp hệ thần kinh trung ương của người sử dụng, làm cho họ phụ thuộc vào chất ma túy, hủy hoại sức khỏe của những người sử dụng, làm cho họ dần dần không còn khả năng lao động và sinh sống bình thường và làm khánh kiệt kinh tế của gia đình. Việc sử dụng ma túy còn làm cho người sử dụng không thể điều khiển được hành vi của mình và có thể dẫn đến các hành vi nguy hiểm cho bản thân và cho xã hội. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã và đang tích cực phòng chống để đẩy lùi và loại trừ ma tuý ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy gây ra nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
Đối với 0,1063 gam Heroine thu giữ của Sỹ Văn T đã gửi toàn bộ đi giám định tại phòng K Công an tỉnh L, không hoàn lại mẫu vật, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Xét đây là vật chứng và là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lai Châu là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Liên quan đến vụ án: Bị cáo Sỹ Văn T khai nguồn gốc 0,1063 gam Heroine bị thu giữ là do mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch gặp tại khu vực đường T, bản T, xã B, tỉnh Lai Châu. Do T không biết nhân thân, lai lịch của người đàn ông này, nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để điều tra, làm rõ.
Qua test nhanh ma túy xác định Sỹ Văn T dương tính với ma túy nhưng kết quả xác minh xác định T không thuộc một trong bốn trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự nên không phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó, Công an xã B, tỉnh Lai Châu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng quy định pháp luật.
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Sỹ Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sỹ Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Sỹ Văn T 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2026.
Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo Sỹ Văn T để đảm bảo cho việc thi hành án.
[3] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Sỹ Văn T.
[4] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy một phong bì của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L. Theo hồ sơ bên trong gồm có: 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.Vật chứng còn lại sau khi gửi giám định của Sỹ Văn T, sinh năm 1993 – Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 04/3/2026 tại bản Thác Cạn, xã B, tỉnh Lai Châu.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 16 giờ 30 phút ngày 15/4/2026, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Lai Châu).
[5] Về án phí: Buộc bị cáo Sỹ Văn T phải chịu 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lai Châu;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lai Châu;
- Cơ quan CSĐT CA tỉnh Lai Châu;
- Cơ quan THAHS CA tỉnh Lai Châu;
- Trại tạm giam CA tỉnh Lai Châu;
- VKSND khu vực 1 - Lai Châu;
- THADS tỉnh Lai Châu;
- Phòng Hồ sơ CA tỉnh Lai Châu;
- Bị cáo;
- Lưu HSVA.
Phạm Thị Nga
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phạm Thị N
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phạm Thị N
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Công an TP Lai Châu; - VKSND TP Lai Châu; - Chi cục THADS TP Lai Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu; - Bị cáo; - Lưu HSVA. kể từ ngày tuyên án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Nga Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị N |