vanban.org

Bản án 74/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về con chung: Giao con chung là cháu Đinh Yến N1, sinh ngày 17/10/2019 cho chị Đinh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Đinh Thị H chưa yêu cầu anh Đinh Công N đóng góp, cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Đinh Công N có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "D T H - Đ C N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2026/HNGĐ - ST
Ngày: 14/9/2026
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Văn Dần Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Bá Toàn

2. Bà Trịnh Thị Thắng Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Hồng Cúc Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Cơ - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/2026/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2026 về ly hôn, tranh chấp nuôi con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2026/QĐXX - ST ngày 21 tháng 8 và Quyết định hoãn phiên toà số 55/2026/QĐST – HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Thôn P, xã M, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

Bị đơn: Anh Đinh Công N, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn P, xã M, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 21/7/2026 cùng bản tự khai ngày 17/8/2026 và tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn là chị Đinh Thị H đã trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị H và anh Đinh Công N kết hôn năm 2016 tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình (nay là xã M, tỉnh Phú Thọ) trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục truyền thống của địa phương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên đến năm 2024 vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng về lối sống và quan điểm sống khiến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Mặc dù được hai bên gia đình khuyên bảo để hàn gắn nhưng đến nay nhận thấy tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay nên đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ giải quyết ly hôn với anh Đinh Công N

Về con chung: Chị Đinh Thị H và anh Đinh Công N có 01 con chung là cháu Đinh Yến N1, sinh ngày 17/10/2019. Sau khi ly hôn, yêu cầu Tòa án giải quyết giao con cho chị Đinh Thị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh Đinh Công N có quyền thăm non con chung theo quy định.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đinh Thị H chưa yêu cầu anh Đinh Công N đóng góp, cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Đinh Công N, Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ đã tiến hành tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Đinh Công N. Đồng thời anh Đinh Công N không có văn bản nào gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị H và không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chúng cứ và hòa giải của Tòa án.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ phát biểu quan điểm về vụ án như sau:

Qua kiểm sát quá trình giải quyết vụ án thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ. Quá trình giải quyết Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ đã thụ lý, thu thập các tài liệu chứng cứ và tiến hành tống đạt theo đúng thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ các quy định có liên quan của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa ngày hôm nay, đối với nguyên đơn đã thực hiện đúng còn bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, cố tình trốn tránh, gây khó khăn cho công tác giải quyết vụ án của Tòa án.

Ý kiến về giải quyết vụ án: Hôn nhân giữa chị Đinh Thị H và anh Đinh Công N là hợp pháp. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và ý kiến của chị H tại phiên tòa ngày hôm nay đã đủ căn cứ cho ly hôn và giải quyết việc việc nuôi con chung theo yêu cầu của đương sự, chấp nhận là có căn cứ pháp luật, quy định tại các Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/7/2026 chị Đinh Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Đinh Công N cùng đia chỉ: Thôn P, xã M, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về việc giao nộp chứng cứ: Chị Đinh Thị H có ý kiến các chứng cứ như đã nộp cho Tòa án nếu anh Đinh Công N cần sẽ giao cho anh N nhưng anh N không có ý kiến về việc giao nhận nên không giao được. Trước phiên họp và tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chị H không yêu cầu đương sự khác cung cấp chứng cứ cho mình.

Về xét xử vắng mặt bị đơn: Tại phiên tòa bị đơn anh Đinh Công N vắng mặt lần thứ hai không có lý do khi đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự, cũng như đảm bảo thời hạn tố tụng Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Đinh Thị H và anh Đinh Công N là tự nguyện, hợp pháp, được UBND xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình (nay là xã M, tỉnh Phú Thọ) cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn chị H và anh N về sinh sống tại xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình (nay là xã M, tỉnh Phú Thọ) và tại biên bản xác minh ngày 24/8/2026 với bà Đinh Thị E – mẹ đẻ của bị đơn Đinh Công N và bà Bùi Hà T- công chức tư pháp xã M đã cung cấp thông tin chị H và anh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký hợp pháp theo quy định. Tuy nhiên khi vợ chồng chung sống thường xảy ra mâu thuẫn. Như vậy đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc không đạt được. Do vậy cần chấp nhận giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của chị Đinh Thị H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Đinh Thị H và anh Đinh Công N có 01 con chung là cháu Đinh Yến N1, sinh ngày 17/10/2019. Quá trình giải quyết vụ án chị H yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Đinh Yến N1. Anh Đinh Công N không có ý kiến gì bằng văn bản và không tham gia phiên tòa. Xét thấy ý kiến của nguyên đơn là hợp pháp nên Hội đồng xét xử xét giao con cho chị Đinh Thị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đinh Thị H chưa yêu cầu anh Đinh Công N đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung nên anh N chưa phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đinh Thị H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Về án phí: Chị Đinh Thị H phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị đơn anh Đinh Công N vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên ;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Đinh Thị H được ly hôn với anh Đinh Công N.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Đinh Yến N1, sinh ngày 17/10/2019 cho chị Đinh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Đinh Thị H chưa yêu cầu anh Đinh Công N đóng góp, cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Đinh Công N có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đinh Thị H và anh Đinh Công N không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

4. Về án phí: Chị Đinh Thị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0001171 ngày 30/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Chị Đinh Thị H đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kế từ ngày tuyên án đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo cùng thời hạn kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ