- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Trong N - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 91 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều…
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2025/HSST Ngày 16/05/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hà;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Lan và bà Đinh Thị Phương Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Hải Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương.
- Đại diện VKSND thành phố Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân (viết tắt TAND) thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 04 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65a/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 05 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Trọng N, sinh ngày 20/4/2007; giới tính: nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn H (đã chết) và bà Phạm Thị Đ; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giam từ ngày 16/01/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị C – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (có mặt).
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn D, sinh ngày 04/6/2008; Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn H1 và bà Cao Thị H2; Nơi cư trú: khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
* Người chứng kiến: Ông Trần Văn T1, bà Phạm Thị Đ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09h50’ ngày 10/01/2025, Tổ công tác Công an xã Q và Công an thành phố H kiểm tra tại hộ gia đình chị Phạm Thị Đ, sinh năm 1973, ở thôn Đ, xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Tại thời điểm kiểm tra trong nhà có chị Đ và hai nam thanh niên là Phạm Trọng N, sinh ngày 20/4/2007, nơi thường trú: thôn Đ, xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương (con của chị Đ) và Nguyễn Văn D, sinh ngày 4/6/2008, nơi thường trú: khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương (bạn của N). Quá trình làm việc N và D khai nhận vào khoảng 20h00’ ngày 08/01/2025 N và D đã cùng sử dụng ma túy đá tại nhà ông Phạm Văn T2 (bác của N) ở thôn Đ, xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Quá trình làm việc có người làm chứng là chị Phạm Thị Đ.
Quá trình điều tra đã làm rõ: Do bản thân có sử dụng ma túy đá (methamphetamine) nên vào khoảng 18h00' ngày 07/01/2025, Phạm Trọng N đi ra khu vực xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, N gặp và hỏi mua được của một nam thanh niên tên là Q (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) 01 túi ma túy đá, kích thước khoảng (1,5x1,5) cm, với số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và 01 coóng thủy tinh với số tiền 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng). Sau đó, N mang ma túy và coóng thủy tinh về cất giấu tại nhà không có người ở tại thôn T, xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương của ông Phạm Văn T2, sinh năm 1968, trú tại: B N, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (là bác ruột của N) để sử dụng. Tại đây, N lấy vỏ chai nước ngọt loại 330ml, ống hút sữa và coóng thủy tinh làm thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. N cho túi ma túy đá vào trong coóng thủy tinh rồi châm lửa sử dụng ma túy. N sử dụng được khoảng 3-4 hơi thì cất bộ dụng cụ (bên trong còn ma túy đá) vào trong tủ bàn thờ nhà ông T2, để khi cần thì sử dụng tiếp.
Đến khoảng 17h00' ngày 08/01/2025, N đi sang xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương để chơi. Khi đi đến khu vực đối diện cây xăng T4 thì N gặp bạn là Phạm Tuấn A, sinh năm 27/8/2008, nơi thường trú: khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương và Nguyễn Văn D, sinh ngày 4/6/2008, nơi thường trú: khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. D hỏi N “có gì chơi không”, N hiểu là D hỏi có ma túy đá sử dụng ma túy không, vì trước đây N có nghe D kể là từng sử dụng ma túy. N bảo “còn một ít trong nhà", D bảo “còn một ít là còn cái gì”. N bảo “Hôm gì lấy 300.000đ còn một ít”. Sau đó D và N đi về nhà của ông T2 ở thôn Đ, xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương để sử dụng ma túy đá. Khoảng 20h00 ngày 08/01/2025, tại nhà của ông T2, N lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã có sẵn ma túy đá (mà N đã cất giấu vào ngày 07/01/2025) mang vào phòng ngủ nhà ông T2 rồi N ngồi quay lưng vào cửa, D ngồi đối diện N, N để bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá ở giữa N và D. Sau đó, N lấy bật lửa có sẵn trong túi quần châm lửa hút khói ma túy đá trước rồi đưa cho D. D tự châm lửa và hút khói ma túy đá. Sau khi N và D sử dụng hết ma túy đá thì N mang coóng thủy tỉnh và chai nhựa vất ra vườn phía sau nhà, còn ống hút bằng nhựa N vất vào trong nhà vệ sinh và xả nước đi rồi N và D đi về nhà.
Đến tối ngày 09/01/2025, N tiếp tục gặp D ở thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. N rủ D đi chơi và về nhà N ngủ. D đồng ý. Khoảng 09h50 ngày 10/01/2025, khi N và D đang ngủ ở nhà N ở thôn Đ, xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương thì có Tổ công tác Công an xã Q, thành phố H vào kiểm tra. Quá trình làm việc N và D đã khai nhận hành vi cùng nhau sử dụng ma túy đá tại nhà ông Phạm Văn T2. Tiến hành tìm kiếm tại vườn nhà ông Phạm Văn T2 ở thôn Đ, xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương, Tổ công tác Công an xã Q, thành phố H đã thu giữ 01 coóng thủy tinh bị vỡ 1 phần đầu, các mảnh thủy tinh có bám dính muội khói màu đen và 01 chai nhựa loại 330ml có nắp màu xanh được đục 02 lỗ, N và D khai nhận đó là dụng cụ để N và D sử dụng ma túy đá vào 20h00’ ngày 08/01/2025.
Phiếu xét nghiệm chất ma túy hồi 10h25 ngày 10/01/2025 tại trạm y tế xã Q, thành phố H đối với Phạm Trọng N, Nguyễn Văn D xác định: N, D đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine.
Tại kết luận giám định số 105 ngày 13/01/2025 của Phòng K, Công an tỉnh H kết luận: Quá trình giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu chất muội khói màu đen bám dính trên coóng thủy tinh bị vỡ một đầu và trên các mảnh thủy tinh, được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định. Lượng mẫu bám dính đều rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
Tại Cáo trạng số 55/CT-VKSTPHD ngày 27/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt VKSND) thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Phạm Trọng Nghĩa về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự (viết tắt BLHS).
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm.
- Đại diện VKSND thành phố Hải Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX)căn cứ điểm c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 91 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024. Tuyên bố Phạm Trọng N phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Xử phạt N từ 04 năm 03 tháng đến 04 năm 06 tháng tù, tính từ ngày 16/01/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu cho tiêu huỷ toàn bộ số vật chứng đã thu giữ được. Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
- Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX xem xét bị cáo nguyên nhân phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội cũng như điều kiện hoàn cảnh gia đình của bị cáo có bố mất sớm để cho bị cáo hưởng mức án 04 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản vụ việc, sơ đồ hiện trường, biên bản xác định hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định, kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, phù hợp với lời khai của người liên quan, người chứng kiến và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cho nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20h00', ngày 08/01/2025, tại nhà của ông Phạm Văn T2 ở thôn Đ, xã Q, thành phố H, Phạm Trọng N đã chuẩn bị ma túy Methamphetamine, dụng cụ để cùng Nguyễn Văn D, sinh ngày 4/6/2008 sử dụng trái phép chất ma túy. Đây là hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi, được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 BLHS. Hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lí các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý nên bị VKSND thành phố Hải Dương truy tố là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
. Bị cáo có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với bị cáo. Do bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng quy định về xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, quy định tại Điều 91 BLHS và khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 để có mức hình phạt phù hợp với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên không áp dụng hình phạt tiền với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số vật chứng thu giữ đang quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu cho tiêu hủy.
. Về tố tụng và vấn đề khác:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về nội dung này.
- Không làm rõ được người đàn ông tên Q đã bán trái phép chất ma tuý cho Phạm Trọng N nên không có căn cứ xử lý.
- Đối với ông Nguyễn Văn T3 và anh Phạm Tuấn A không biết việc N tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý.
- Đối với anh Nguyễn Văn D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, vào ngày 08/01/2025, ngày 10/02/2025 Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 91 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[2]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trọng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
[3]. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Phạm Trọng N 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/01/2025.
[4]. Về vật chứng:
Tịch thu cho tiêu huỷ: 01 coóng thủy tinh bị vỡ một đầu, các mảnh thủy tinh, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định được đựng trong phong bì niêm phong số 105/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh H và 01 chai nhựa loại 330ml có nắp màu xanh được đục 2 lỗ.
(Hiện số vật chứng trên do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương đang quản lý; tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09 tháng 4 năm 2025 giữa Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).
[5]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Trọng N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí.
[6]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án để bảo vệ lợi ích của người 18 tuổi trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/5/2025)./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hải Dương; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hải Dương; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS TP. Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu Toà; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Hà |