- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2024/HSST Ngày 01-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Mai Xiêng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Văn Duôi và bà Lường Thị Tươi.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai- Thư ký Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: Ông Lường Văn Dũng- Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2024/TLST-HS, ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Quàng Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1993 tại huyện TC, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản Chiềng La, xã CL, huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn Phan, sinh năm 1971 và bà Lò Thị Thu, sinh năm 1974; bị cáo có vợ là La Thị Gió, sinh năm 1996 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: không, tiền sự: Tại Quyết định số 0024094/QĐ-XPHC ngày 10/01/2024 bị Công an huyện TC, tỉnh Sơn La ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, phạt tiền 1.500.000 đồng; nhân thân: Tại bản án số 41/2014/HSST ngày 18/3/2014 bị Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn La xử phạt 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 19 tháng 12 năm 2023. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, Tổ công tác Công an xã Chiềng Pha, huyện TC, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Heo Trại, xã Chiềng Pha, huyện TC, phát hiện bắt quả tang Quàng Văn T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu hồng bên trong có chứa bột cục màu trắng nghi là Heroine (theo Quàng Văn T khai là Heroine).
Hồi 16 giờ 10 phút, ngày 19/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu giám định, kết quả: số bột cục màu trắng nghi là Heroine trong gói nilon màu hồng có khối lượng 0,34 gam. Trích toàn bộ 0,34 gam, ký hiệu T1 gửi giám định.
Kết luận giám định số: 46/KL- KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,34 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ 0,34 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 19/12/2023, Quàng Văn T đi bộ một mình từ nhà ở bản Chiềng La, xã CL, huyện TC ra xã Chiềng Pha, huyện TC với mục đích đi tìm mua ma túy về để sử dụng. Khi T đi đến khu vực bản Heo Trại, xã Chiềng Pha, huyện TC, T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc thái tên là Quý (T không biết tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói bằng nilon màu hồng bên trong có Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu gói ma túy vừa mua được vào trong túi áo khoác đằng trước bên phải đang mặc rồi đi về nhà. Khi T đi được khoảng 30m thuộc khu vực bản Heo Trại, xã Chiềng Pha, huyện TC thì bị tổ công tác Công an xã Chiềng Pha, huyện Thuận Châu phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng.
Tại Cáo trạng số: 28/CT- VKSTC, ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC truy tố bị cáo Quàng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Quàng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Quàng Văn T từ 20 (hai mươi) tháng tù đến 26 (hai mươi sáu) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung ( phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy: một mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn T.
Tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn T thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Ngày 19/12/2023 bị cáo Quàng Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,34 gam chất ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại bản Heo Trại, xã Chiềng Pha, huyện TC, tỉnh Sơn La.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 19/12/2023; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 46/KL- KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người chứng kiến.
Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,34 gam chất ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine trong người với mục đích để sử dụng của bị cáo Quàng Văn T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông nội được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo nhân thân xấu, có 01 tiền án đã được xóa án tích, có 01 tiền sự chưa được xóa.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Quàng Văn T khai mua của một người đàn ông dân tộc thái tên Quý (bị cáo không biết tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông tên Quý) tại khu vực bản Heo Trại, xã Chiềng Pha, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La vào ngày 19/12/2023. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC tiến hành điều tra, xác minh tại bản Heo Trại, xã Chiềng Pha, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La có 04 người tên Quý. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC tiến hành cho bị cáo nhận dạng 04 người tên Quý tại bản Heo Trại, xã Chiềng Pha, huyện Thuận Châu. Tuy nhiên bị cáo Quàng Văn T xác định 04 người trên không phải là người bán ma túy cho bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, buộc bị cáo Quàng Văn T phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ.
Đối với người đàn ông dân tộc thái tên Quý, theo Quàng Văn T khai nhận là người đã bán ma túy cho T vào ngày 19/12/2023 tại bản Heo Trại, xã Chiềng Pha, huyện TC, tỉnh Sơn La. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC tiến hành điều tra, xác minh tại bản Heo Trại, xã Chiềng Pha, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La có 04 người tên Quý. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC tiến hành cho bị cáo nhận dạng 04 người tên Quý tại bản Heo Trại, xã Chiềng Pha, huyện Thuận Châu. Bị cáo Quàng Văn T xác định 04 người trên không phải là người bán ma túy cho bị cáo, do vậy không có căn cứ điều tra, xử lý.
Vật chứng vụ án: Đối với một mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, vật không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo Quàng Văn T là người dân tộc thiểu số sinh sống ở bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: một phong bì niêm phong có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho vụ Quàng Văn T- TTTPCMT, bắt ngày 19/12/2023. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 065808, đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC, tỉnh Sơn La. Bên trong có: một mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu;
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn T.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Quàng Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Thuận Châu (02 bản); - CA huyện TC; - Chi cục THADS huyện TC; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |