vanban.org

Bản án 74/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 28/02/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/02/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Khắc K, Nguyễn Minh C và Nguyễn Minh H;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 190/2023/HS-ST ngày 26-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc. Tội danh và hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Khắc K và đồng phạm phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) - phạm tội đánh…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Khắc K, Nguyễn Minh C và Nguyễn Minh H;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 207/2023/NQ-HĐND Quy định nội dung, mức hỗ trợ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-PT
Ngày 28 - 02 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành;

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Quyên;

Ông Trần Nam Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 462/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo Phạm Khắc K và các bị cáo khác; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 190/2023/HS-ST ngày 26-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc;

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Phạm Khắc K, sinh năm 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Căn cước công dân số: 07907503726X; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Phạm Thanh T (đã chết) và bà Trịnh Ngọc T1; có vợ tên M Huyền T2 và có 03 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 30-6-2023 đến ngày 01-7-2023; hiện nay, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số: 206/2023/LCĐKNCT ngày 18-12-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Minh C, sinh năm 1977 tại Đồng Nai; Căn cước công dân số: 07507701359X; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Ấp S, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 00/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; con ông Nguyễn Văn T3 (đã chết) và bà Lê Thị N; chung sống như vợ chồng với chị Đặng Thị Thu T4 và có 03 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 30-6-2023 đến ngày 01-7-2023; hiện nay, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số: 207/2023/LCĐKNCT ngày 18-12-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Minh H, sinh năm 1970 tại Đồng Nai; Căn cước công dân số: 07507001136X; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Ấp V, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Minh H1 (đã chết) và bà Phạm Thị L (đã chết); có vợ tên Nguyễn Thị M1 (đã ly hôn) và có 04 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 30-6-2023 đến ngày 01-7-2023; hiện nay, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số: 208/2023/LCĐKNCT ngày 18-12-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.

- Ngoài ra, vụ án còn có bị cáo Phạm Huỳnh Kim H2 không có kháng cáo và không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 30/6/2023, tại nhà bà Trần Thị M2, sinh năm 1964, thuộc ấp S, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Công an xã S kiểm tra và phát hiện bắt quả tang Phạm Huỳnh Kim H2, Nguyễn Minh C, Nguyễn Minh H và Phạm Khắc K, đang thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài “Binh xập xám” thắng thua bằng tiền.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 09 giờ 30 ngày 30/6/2023, Nguyễn Minh C, Nguyễn Minh H, Phạm Khắc K và Phạm Huỳnh Kim H2, đến nhà bà Trần Thị M2 để uống cà phê. Trong lúc ngồi uống cà phê, C, H, K và H2 thấy có 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng để ở trên bàn uống nước, nên cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi bài binh xập xám thắng thua bằng tiền; quy định làm cái xoay tua, mỗi người cầm cái 01 ván, chỉ đặt cược tính thắng thua với người cầm cái, nếu ai thắng 02 chi thì là người thắng ván đó, số tiền đặt cược mỗi ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Quá trình đánh bạc, có một số đối tượng (không rõ nhân thân lai lịch) cũng tham gia đặt tiền ké với tụ bài của C, H, K và H2; kết quả họ có thắng có thua nhưng đã bỏ về trước.

Hình thức đánh bạc như sau: Người chơi sử dụng bộ bài tây 52 lá, mỗi người chơi sẽ được chia 13 lá bài và xếp thành 3 chi khác nhau. Người chơi sẽ xếp chi đầu và chi thứ hai mỗi chi gồm 5 lá bài, chi cuối sẽ có 3 lá bài. Cách tính theo thứ tự từ nhỏ đến lớn như sau: “Mậu thầu” là các lá bài lẻ, những lá bài này không liên kết được với những lá bài khác; “Đôi” là hai lá bài cùng số và cùng một chi; “Thú” là khi trong cùng một chi sẽ có hai đôi bài; “xám” là khi trong cùng một chi có 3 lá bài cùng số với nhau; “Sảnh” là khi trong cùng một chi có 5 lá bài liên tiếp với nhau; “Thùng” là khi trong cùng một chi có 5 lá bài có cùng chất với nhau; “Cù lũ” là khi trong cùng một chi gồm có 1 đôi và 1 xám; “Tứ quý” là khi trong cùng một chi có 4 lá bài cùng một con số; “Thùng phá sảnh” là một dây 5 lá bài liên tiếp với nhau và có cùng một chất; nếu trong bài của người chơi có được “Tứ quý” hoặc “Thùng phá sảnh” hoặc 06 đôi thì sẽ được “Mậu binh”. Nếu người làm cái “Mậu binh” thì thắng hết các người chơi còn lại, còn những người chơi “Mậu binh” thì thắng người làm cái.

Hành vi cụ thể như sau:

- Phạm Khắc K đem theo số tiền 5.200.000 đồng và dùng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc. Đến khi bị bắt quả tang, K đang thắng số tiền 300.000 đồng, tạm giữ trên người Kính số tiền 5.000.000 đồng, tạm giữ trên chiếu bạc tại vị trí Kính ngồi số tiền 500.000 đồng.

- Phạm Huỳnh Kim H2 đem theo số tiền 4.350.000 đồng và dùng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc. Đến khi bị bắt quả tang H2 đang thắng số tiền 200.000 đồng, tạm giữ trên người H2 số tiền 3.600.000 đồng, tạm giữ trên chiếu bạc tại vị trí H2 ngồi số tiền 950.000 đồng.

- Nguyễn Minh C đem theo số tiền 4.700.000 đồng và sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc. Đến khi bị bắt quả tang C đang thua số tiền 200.000 đồng, tạm giữ trên người C số tiền 2.700.000 đồng và tạm giữ trên chiếu bạc tại vị trí C ngồi số tiền 1.800.000 đồng.

- Nguyễn Minh H đem theo số tiền 1.800.000 đồng và dùng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc. Đến khi bị bắt quả tang H đang thua số tiền 100.000 đồng, tạm giữ trên người H số tiền 1.700.000 đồng.

- Tổng số tiền đánh bạc được cấp sơ thẩm xác định là 13.550.000 đồng.

- Vật chứng thu giữ: 02 (hai) bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng); tiền tại chiếu bạc và trên người các con bạc; 02 xe mô tô.

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 190/2023/HS-ST ngày 26-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, đã quyết định:

- Tuyên bố các bị cáo Phạm Khắc K, Phạm Huỳnh Kim H2, Nguyễn Minh C và Nguyễn Minh H phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Xử phạt bị cáo Phạm Huỳnh Kim H2 01 năm 06 tháng tù; Phạm Khắc K 01 năm 02 tháng tù; Nguyễn Minh C và Nguyễn Minh H đều bị xử phạt 08 tháng tù.

- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng cáo:

Trong thời hạn luật định, các bị cáo Phạm Khắc K, Nguyễn Minh C và Nguyễn Minh H kháng cáo, đề nghị được hưởng án treo.

4. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án; xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật bản án sơ thẩm đã nêu là có căn cứ, đúng người và đúng tội. Hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm đối với các bị cáo là phù hợp; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Ngày 24-01-2024, Tòa án mở phiên tòa lần thứ nhất; các bị cáo Phạm Khắc K, Nguyễn Minh C và Nguyễn Minh H đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị hoãn phiên tòa với lý do sức khỏe. Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.

Ngày 28-02-2024, Tòa án mở phiên tòa lần thứ hai; các bị cáo Phạm Khắc K, Nguyễn Minh C và Nguyễn Minh H tiếp tục vắng mặt và có đơn đề nghị hoãn phiên tòa với lý do sức khỏe. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về tội danh:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về kháng cáo:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tại cấp sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Áp dụng quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại cấp phúc thẩm: Các bị cáo cung cấp đơn, được chính quyền địa phương xác nhận và tài liệu, thể hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình và đang bị bệnh. Áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

3.3. Về hình phạt:

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện vụ án, việc cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo hình phạt như trên là phù hợp và đã xem xét giảm nhẹ; mặc dù, tại cấp phúc thẩm, các bị cáo có tình tiết mới nêu trên nhưng không có căn cứ chấp nhận kháng cáo.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1, 2 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Khắc K, Nguyễn Minh C và Nguyễn Minh H;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 190/2023/HS-ST ngày 26-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

1. Tội danh và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt tù các bị cáo sau đây về tội “Đánh bạc”:

- Xử phạt bị cáo Phạm Khắc K 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án Phạm Khắc K vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù; được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, từ ngày 30-6-2023 đến ngày 01-7-2023.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án Nguyễn Minh C vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù; được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, từ ngày 30-6-2023 đến ngày 01-7-2023.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án Nguyễn Minh H vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù; được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, từ ngày 30-6-2023 đến ngày 01-7-2023.

2. Về án phí:

Các bị cáo Phạm Khắc K, Nguyễn Minh C và Nguyễn Minh H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Quyết định của bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Phạm Huỳnh Kim H2, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ