vanban.org

Bản án 74/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Dương

Thị Hoà và anh Nguyễn Văn Lộc. Về con chung: giao cho chị Dương Thị Hoà nuôi con chung là Nguyễn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị H ly hôn, tranh chấp về nuôi con với Nguyễn Văn L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Dương
  • Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:74/2024/HNGĐ-ST
Ngày 25-12-2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thiện

Ông Trần Anh Dũng

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Xuân Trường - Thẩm tra viên Tòa án nhân

dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Ông

Vi Văn Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên,

tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 291/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 177/2024/QĐST- HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị Hoà, sinh năm 1990 (có mặt)

Nơi thường trú: thôn Việt Hùng, xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc

Giang;

Nơi ở hiện nay: thôn Long Vân, xã Phúc Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc

Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Lộc, sinh năm 1988 (có mặt)

Nơi thường trú: thôn Việt Hùng, xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc

Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện ngày 09/8/2024, Bản tự khai và các lời khai tiếp theo

nguyên đơn chị Dương Thị Hoà trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn Lộc kết hôn tháng 2 năm 2012, anh chị được tự do

tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn Việt Hùng, xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 7 năm 2024, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không hợp nhau. Từ tháng 7 năm 2024 vợ chồng sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lộc.

Về con chung: anh chị có 03 con chung là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày

27/6/2013; Nguyễn Thị Khánh Huyền, sinh ngày 14/4/2016 và Nguyễn Văn Quân, sinh ngày 16/02/2020, hiện con chung đang ở với anh Lộc. Vợ chồng ly hôn, chị xin được nuôi cháu Quân. Chị đồng ý để anh Lộc nuôi cháu Tài và cháu Huyền. Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị và anh Lộc không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng

góp trong thời gian ở chung: chị Hoà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà chị Hoà có mặt giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Lộc.

Về con chung: chị xin được nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Văn Quân,

sinh ngày 16/02/2020, chị đồng ý để anh Lộc nuôi con chung là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 27/6/2013 và Nguyễn Thị Khánh Huyền, sinh ngày 14/4/2016.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị và anh Lộc không phải cấp dưỡng nuôi

con chung cho nhau.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng

góp trong thời gian ở chung: chị Hoà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai và biên bản ghi lời khai bị đơn là anh Nguyễn Văn Lộc

trình bày:

Anh và chị Hoà kết hôn với nhau tự nguyện vào tháng 2 năm 2012, có đăng

ký kết hôn tại UBND xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên. Sau khi kết hôn, chị Hoà về làm dâu nhà anh, vợ chồng ở chung cùng bố mẹ anh. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, chị Hoà về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 8 năm 2024 cho đến nay, anh có gọi điện thì chị Hoà không nghe. Nay chị Hoà xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Trường hợp chị Hoà cương quyết xin ly hôn, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: anh và chị Hoà có con chung 03 con chung là Nguyễn Văn

Tài, sinh ngày 27/6/2013; Nguyễn Thị Khánh Huyền, sinh ngày 14/4/2016 và Nguyễn Văn Quân, sinh ngày 16/02/2020. Hiện các con đang ở với anh, vợ chồng ly hôn, anh đề nghị được nuôi 03 con chung. Trường hợp không được nuôi 03 con chung thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh không yêu cầu chị Hoà phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: anh Lộc không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên toà anh Lộc có mặt đồng ý ly hôn với chị Hoà. Về con chung: anh đề nghị được nuôi 3 con chung, anh không yêu cầu chị Hoà phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: anh Lộc không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý

kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định.

Đối với những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy

định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa

chị Dương Thị Hoà và anh Nguyễn Văn Lộc.

Về con chung: giao cho chị Hoà nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Văn

Quân, sinh ngày 16/02/2020, anh Nguyễn Văn Lộc nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 27/6/2013 và Nguyễn Thị Khánh Huyền, sinh ngày 14/4/2016.

Về án phí: chị Dương Thị Hoà phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ

thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra

tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến đề nghị của đương sự. Căn cứ vào kết quả thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng: chị Dương Thị Hoà khởi

kiện yêu cầu ly hôn và giải quyết về con chung với anh Nguyễn Văn Lộc có nơi thường trú tại thôn Việt Hùng, xã Việt Ngọc, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên đã thụ lý giải vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.

Về quan hệ hôn nhân: chị Hoà và anh Lộc kết hôn với nhau năm 2012

trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên. Sau khi kết hôn, anh chị đã có thời gian chung sống hạnh phúc. Đến năm 2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn chị Hoà cho rằng anh Lộc uống rượu, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau. Từ tháng 8 năm 2024, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, chăm sóc nhau. Nay chị Hoà xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn với anh Lộc. Tại phiên toà anh Lộc đồng ý ly hôn với chị Hoà. Tại biên bản xác minh với chính quyền địa phương và bà Hoàng Thị Kiểm là mẹ đẻ của anh Lộc cho biết anh Nguyễn Văn Lộc kết hôn với chị Dương Thị Hoà năm 2012, từ tháng 7 năm 2024 chị Hoà đã về nhà bố mẹ đẻ ở. Đến nay, chị Hoà xin ly hôn anh Lộc đề nghị xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy hiện chị Hoà và anh Lộc đã sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân, anh chị không quan tâm, chăm sóc nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Hoà, anh Lộc đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên toà anh Lộc đồng ý ly hôn với chị Hoà. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình cần công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoà và anh Lộc là phù hợp.

Về con chung: chị Hoà và anh Lộc có 03 con chung là Nguyễn Văn Tài,

sinh ngày 27/6/2013; Nguyễn Thị Khánh Huyền, sinh ngày 14/4/2016 và Nguyễn Văn Quân, sinh ngày 16/02/2020. Vợ chồng ly hôn chị Hoà xin được nuôi con chung là Nguyễn Văn Quân, chị đồng ý để anh Lộc nuôi con chung là Nguyễn Văn Tài và Nguyễn Thị Khánh Huyền, anh Lộc xin được nuôi 03 con chung. Hiện nay chị Hoà làm công nhân thu nhập hơn 15.000.000 đồng/ tháng, anh Lộc làm thợ xây thu nhập khoảng 15.000.000 đồng/ tháng. Tại biên bản làm việc với chính quyền địa phương đều xác nhận hiện nay chị Hoà, anh Lộc có thu nhập đảm bảo cuộc sống. Hội đồng xét xử thấy: chị Hoà và anh Lộc có 03 con chung là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 27/6/2013; Nguyễn Thị Khánh Huyền, sinh ngày 14/4/2016 và Nguyễn Văn Quân, sinh ngày 16/02/2020 chưa thành niên. Chị Hoà, anh Lộc đều có đủ khả năng và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tại biên bản xác minh cháu Tài và cháu Huyền có nguyện vọng được ở với anh Lộc. Để đảm bảo cho việc ổn định cuộc sống, chăm sóc cháu cháu Tài và cháu Huyền nên cần giao cho anh Lộc tiếp tục nuôi cháu Tài và cháu Huyền, giao cho chị Hoà nuôi cháu Quân là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: do chị Hoà, anh Lộc tự nguyện không yêu cầu cấp

dưỡng nuôi con chung cho nhau nên không buộc chị Hoà, anh Lộc phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm

nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức

đóng góp trong thời gian ở chung: chị Hoà, anh Lộc không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: chị Dương Thị Hoà phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự

sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định

tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;

khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55; khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Dương

Thị Hoà và anh Nguyễn Văn Lộc.

2.Về con chung: giao cho chị Dương Thị Hoà nuôi con chung là Nguyễn

Văn Quân, sinh ngày 16/02/2020. Giao cho anh Nguyễn Văn Lộc nuôi con chung là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 27/6/2013 và Nguyễn Thị Khánh Huyền, sinh ngày 14/4/2016.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Dương Thị Hoà, anh Nguyễn Văn Lộc

không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm

nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: chị Dương Thị Hoà phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn

đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007073 ngày 10 tháng 10 năm 2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Xác nhận chị Dương Thị Hoà đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản

án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ