- Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Dương Văn M , Dương Văn C , Dương Văn K , Dương Văn T và Nguyễn Viết T đã phạm tội “Đánh bạc”. 2.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2023/HSST Ngày: 26/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải;
2. Ông Hà Văn Tôn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Dung – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Ông Dương Văn Thuận – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 43/2023/HSST ngày 01/03/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXX ngày 10/3/2023, đối với các bị cáo:
1. Dương Văn M ; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1978;
Nơi cư trú: Tổ dân phố Liên Sơn, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, Thái Nguyên. Chỗ ở: Tổ dân phố Cầu Rẽo, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12. Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (Đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng tại Quyết định số 92 - QĐ/UBKTTU ngày 01/3/2023 của Uỷ ban kiểm tra Thành uỷ Phổ Yên). Con ông Dương Xuân H (đã chết); con bà Nguyễn Thị L . Bị cáo có 11 anh chị em, Mười là con thứ 10; Có vợ là Tạ Thị H ; Vợ chồng có 02 con: lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007.
Tiền án, tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Dương Văn M không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên toà).
2. Dương Văn C ; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1986;
Nơi cư trú: Tổ dân phố Cống Thượng, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12. Con ông Dương Văn Xong (Bị cáo khai tại phiên toà: bố đẻ tên Dương Văn X là đúng với Căn cước công dân); con bà Nguyễn Thị Đ . Bị cáo có ba anh chị em, Cường là con út; Có vợ là Nguyễn Thu H ; Vợ chồng có 02 con chung: lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Dương Văn C không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên toà).
3. Dương Văn K ; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1987;
Nơi cư trú: tổ dân phố Cống Thượng, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 9/12. Con ông Dương Văn K (đã chết); con bà Nguyễn Thị L . Bị cáo có 03 anh em, K là thứ nhất; Có vợ là Đặng Thị M ; Vợ chồng có 04 con chung: lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên toà).
4. Dương Văn T ; tên gọi khác: Không; sinh năm 1981;
Nơi cư trú: tổ dân phố Diện, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12. Con ông Dương Văn C (đã chết); con bà Đồng Thị T . Bị cáo có 03 anh em, T là con thứ 2; có vợ là Hà Thị P ; Vợ chồng có 03 con chung: lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên toà).
5. Nguyễn Viết T ; tên gọi khác: Không; sinh năm 1982;
Nơi cư trú: tổ dân phố Liên Sơn, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 12/12. Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (Đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng tại Quyết định số 93 - QĐ/UBKTTU ngày 01/3/2023 của Uỷ ban kiểm tra Thành uỷ Phổ Yên). Con ông: Nguyễn Viết Dũng; con bà Quách Thị M . Bị cáo có 03 chị em, Thiện là con thứ 2; có vợ là Bùi Thị H ; Vợ chồng có 03 con chung: lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Nguyễn Viết T không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên toà).
- Người làm chứng: Ông Dương Văn T , sinh năm 1970; Nơi cư trú: TDP Liên Sơn, phường Hồng Tiến, Phổ Yên, Thái Nguyên.
- Người chứng kiến: Ông Bùi Văn H , sinh năm 1970; Nơi cư trú: TDP Liên Sơn, phường Hồng Tiến, Phổ Yên, Thái Nguyên.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 20 phút ngày 22/11/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Trật tự Xã hội – Công an thành phố Phổ Yên, đã phát hiện bắt quả tang 04 đối tượng đang đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh “Chắn” được thua bằng tiền tại chỗ ở của Dương Văn M (sinh năm 1978), thuộc tổ dân phố Cầu Rẽo, phường Bãi Bông, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Các đối tượng tham gia đánh bạc bị bắt quả tang gồm: Dương Văn T , Dương Văn K , Dương Văn C và Nguyễn Viết T . Ngoài ra còn có đối tượng Dương Văn T không tham gia đánh bạc, đang ngồi xem các đối tượng trên đánh bạc.
Vật chứng tạm giữ gồm: Tiền VND là 6.940.000 đồng, trên chiếu bạc; 01 ống kim loại là vỏ hộp sữa bột loại Colos baby cũ, bên trong có 40.000 đồng; 01 chiếu cói màu đỏ; 01 vỏ chăn nhung màu đỏ; 01 bộ bài chắn 100 quân và 01 đĩa sứ màu trắng.
Tạm giữ trên người: Dương Văn C 4.000.000đồng, trên người Nguyễn Viết Thiện 500.000đồng, trên người Dương Văn T 2.010.000 đồng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với các đối tượng trên, tạm giữ niêm phong các tang vật liên quan rồi đưa về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên giải quyết theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra Dương Văn M , Dương Văn C , Dương Văn K , Dương Văn T và Nguyễn Viết T khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 22/11/2022, Thuấn, Khoát, Cường và Thiện đến nhà của M (chủ nhà) ngồi chơi uống nước. Sau đó cả bốn người cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “Chắn” được thua bằng tiền tại phòng khách nhà M . M đồng ý cho các đối tượng đánh bạc được thua bằng tiền tại nhà mình; chiếu, vỏ chăn, đĩa sứ có sẵn ở phòng khách nhà M , còn bộ bài “Chắn” gồm 100 quân Khoát lấy ở trên tủ ti vi nhà Mười.
Hình thức đánh cụ thể như sau: Sử dụng bộ bài “Chắn” gồm có 100 quân bài được chia cho 04 người mỗi người 19 quân bài và một người 20 quân bài, số bài còn lại được để trên đĩa dưới chiếu bạc. Sau khi chia bài xong thì người nhận được 20 quân bài là người cầm cái sẽ đánh trước cho người ngồi bên tay phải mình một quân bài, người này sẽ là người đánh tiếp theo có quyền ăn quân bài của người đánh trước để kết hợp với các quân bài trên tay thành một “Chắn”, nếu không ăn có thể bốc quân bài ở đĩa dưới chiếu rồi đánh đi một quân bài trên số bài của mình đang có. Ván bài kết thúc khi có một người “Ù” những người chơi khác sẽ bị thua và trả tiền cho người “Ù”. Thứ tự “Ù” từ bé đến lớn như sau: Ù xuông -> Ù chì -> Ù tôm -> Ù lèo -> Ù bạch định -> Ù tám đỏ một lèo và Ù tám đỏ hai lèo, với mức tiền sát phạt lần lượt là 30.000 đồng, 40.000 đồng, 50.000 đồng, 60.000 đồng, 70.000 đồng, 80.000 đồng và 120.000 đồng. Nếu không có ai “Ù” cho đến khi bốc hết bài trên đĩa thì ván bài đó sẽ hòa và tiến hành đánh lại ván mới. Khi các đối tượng đánh bạc thì Mười có ngồi xem khoảng 20 phút, sau đó thì Mười bảo đi lên Sông Công có việc. Các đối tượng đánh bạc đến 10 giờ 20 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an thành phố Phổ Yên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Khi tham gia đánh bạc, C khai mang theo 5.070.000 đồng, sử dụng 1.070.000đồng để đánh bạc, số tiền còn lại Cường để trên người không sử dụng đánh bạc; K khai mang theo 4.040.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; T khai mang theo 2.010.000 đồng để đánh bạc nhưng T đang thắng nên vẫn để trên người, nếu thua T sẽ bỏ ra để đánh bạc; T khai mang theo 2.370.000 đồng, T bỏ ra 1.870.000 đồng để đánh bạc, còn 500.000 đồng Thiện để trên người không sử dụng đánh bạc. Các đối tượng tự thỏa thuận với nhau mỗi một ván “Ù” sẽ bỏ ra 10.000 đồng để cho vào ống kim loại đưa cho Mười chủ nhà (tiền điện) sau khi đánh bạc xong. M không biết các đối tượng thống nhất với nhau nội dung trên.
Tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là 6.940.000 đồng + 40.000 đồng + 2.010.000 đồng = 8.990.000 đồng (Tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng). Số tiền lần lượt được niêm phong trong phong bì ký hiệu T, B, THU.
Ngày 25/11/2022, Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 441/CSĐT đối với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đối với số tiền thu giữ khi bắt quả tang được niêm phong trong các phong bì ký hiệu lần lượt là T, B, THU là tiền thật hay tiền giả.
Tại bản kết luận giám định số 1752/KL – KTHS ngày 04/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận số tiền gửi giám định trong phong bì (Ký hiệu T, B, THU) là tiền thật.
Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số 58/CT - VKSPY ngày 28/02/2023, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Dương Văn M , Dương Văn C , Dương Văn K , Dương Văn T và Nguyễn Viết T về tội “ Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội Đánh bạc thể hiện và đề nghị tại bản cáo trạng số 58/KSĐT ngày 28/02/2023.
Nhân thân: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T có ông nội tham gia kháng chiến nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ khác tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Tuyên bố các bị cáo Dương Văn M , Dương Văn C , Dương Văn K , Dương Văn T và Nguyễn Viết T đã phạm tội đánh bạc.
1, Về hình phạt:
* Hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 (khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T ), Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Dương Văn C , Dương Văn K , Dương Văn T , Nguyễn Viết T từ 06 - 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 - 18 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự, phạt tiền bị cáo Dương Văn M từ 30 – 40 triệu đồng.
* Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, phạt tiền sung công quỹ Nhà nước đối với các bị cáo Dương Văn C g, Dương Văn K , Dương Văn T , Nguyễn Viết T mỗi bị cáo từ 10 -12 triệu đồng
Áp dụng khoản 2 Điều 32 Bộ luật hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Mười.
2, Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
-Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếu cói màu đỏ; 01 chăn nhung màu đỏ; 01 túi niêm phong mã số 2105341 (bên trong chứa 01 bộ bài chắn gồm 100 quân bài, 01 đĩa sữ màu trắng, 01 ống kim loại hình trụ tròn loại vỏ hộp sữa Colorbaby kích thước cao 16cm, đường kính 13cm)
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 8.990.000 đồng (Tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng)các bị cáo sử dụng đánh bạc;
- Trả lại Dương Văn C 4.000.000đ, Nguyễn Viết Thiện: 500.000đ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Án phí và quyền kháng cáo: mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Phần tranh tụng:
Ý kiến tranh luận của của các bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng lượng khoan hồng với mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
Kết thúc phần tranh tụng bị cáo, đại diện VKS thành phố Phổ Yên không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử cho hưởng lượng khoan hồng của pháp luật cải tạo tại địa phương để có cơ hội lao động trở thành công dân có ích cho cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về thủ tục tố tụng:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
. Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt mặt tại phiên toà không có lý do. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ; Kiểm sát viên, các bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt. Xét việc người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật.
. Xác định tội danh và căn cứ phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa ngày hôm nay, qua xét hỏi, bị cáo Dương Văn M , Dương Văn C , Dương Văn K , Dương Văn T và Nguyễn Viết T khai nhận: Việc đánh bạc bằng hình thức “Chắn” sát phạt nhau bằng tiền diễn ra từ khoảng 9 giờ đến 10 giờ 20 phút ngày 22/11/2022, thì bị bắt là hoàn toàn tự phát, không có người khởi xướng cũng như không có sự bàn bạc hoặc phân công vai trò và người canh gác. Trước khi tiến hành đánh bạc tất cả hỏi ý kiến của chủ nhà nhà Dương Văn M , được M đồng ý. Việc thoả thuận trả tiền cho Mười là do các bị cáo cũng thống nhất ý chí cao, M không biết thoả thuận này của các bị cáo nhưng trước đó đã đồng ý cho đánh bạc tại nhà, các phương tiện khác như chiếu cói, vỏ chăn nhung đều của gia đình nhà Mười để tại phòng khách. Khi bắt đầu chơi đánh bài tại nhà, M có ngồi lại xem đánh bài khoảng 15 phút mới đứng dậy không tham gia đánh và không xem các bị cáo khác đánh bạc.
Xét lời khai của các bị cáo tại quá trình điều tra và tại phiên tòa Hội đồng xét xử thấy: Buổi sáng ngày 22/11/2022 các đối tượng Dương Văn C , Dương Văn K , Dương Văn T , Nguyễn Viết T có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh chắn tại nhà ở của Dương Văn M . Chủ nhà Dương Văn M không trực tiếp tham gia đánh bạc cùng nhưng biết rõ các đối tượng khởi xướng việc đánh bạc và đồng ý để cho các đối tượng đánh bạc tại nhà mình, công cụ, phương tiện phạm tội đều của gia đình M , trong khi các bị cáo đánh bạc M ngồi xem được một lúc lấy lý do có việc không có mặt tại nhà. Trong khi đánh bạc các bị cáo đã thoả thuận mỗi ván thắng bài thì người nào ù sẽ bỏ ra 10.000đ để trong vỏ hộp sữa, mục đích trả cho M , số tiền thu được là 40.000đ. Như vậy, mặc dù Mười không trực tiếp đánh bạc cùng các bị cáo nhưng đã thể hiện ý chí cho các bị cáo khác đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền tại nhà ở của mình và không phản đối mà cùng quan điểm như các bị cáo khác. Do đó, xác định bị cáo đồng phạm về tội Đánh bạc với các bị cáo trong vụ án.
. Hành vi đánh bạc trái phép của các bị cáo có đủ căn cứ cấu thành tội “Đánh bạc”, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố các bị cáo tại bản cáo trạng số 58/CT - VKSPY ngày 28/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng luật.
“Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”.
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được hưởng thấy rằng:
Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xong hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng của Nhà nước. Các bị cáo tụ tập rủ nhau đánh bạc có tính chất sát phạt tiền bạc của nhau để kiếm lời, không những làm thiệt hại về tài sản của mình và người khác, mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, việc đưa ra xét xử là cần thiết và cũng cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi các bị cáo thực hiện nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung để đẩy lùi tệ nạn này ra khỏi cộng đồng.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh chắn được thua bằng tiền VNĐ là hoàn toàn tự phát, không có người khởi xướng và cầm đầu, trong khi tham gia đánh bạc không có sự bàn bạc hoặc phân công vai trò hoặc người cảnh giới. Tuy nhiên, tại phiên toà, bị cáo K xác định là người đến nhà Mười đầu tiên, khi bắt đầu chơi bài, bị cáo K là người chủ động cầm bộ bài chắn và trực tiếp chia cho các bị cáo cùng tham gia đánh bạc nên xác định vai trò của bị cáo Khoát là tích cực hơn các bị cáo trong vụ án. Còn bị cáo M là chủ nhà không tham gia trực tiếp đánh bạc được thua bằng tiền nên tính chất, mức độ của bị cáo không nguy hiểm như các bị cáo khác. Do vậy, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ xem xét mức độ, vai trò tham gia đồng phạm của từng bị cáo để thể hiện sự phân hoá tội phạm trong vụ án được đảm bảo sự công bằng.
Về nhân thân các bị cáo: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong vụ án có hai bị cáo là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là Dương Văn M và Nguyễn Viết T . Hiện Uỷ ban kiểm tra thành uỷ Phổ Yên đã ra Quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng đối với hai bị cáo nêu trên.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo”. Bị cáo Nguyễn Viết T còn có ông nội tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được tặng thưởng Huân chương Hạng 3, nên xét cho bị cáo Thiện được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ khác tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
. Hội đồng xét xử nhận định về hình phạt cần áp dụng:
Đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy các bị cáo đều cùng thực hiện hành vi phạm tội và phải chịu cùng một chế tài hình phạt do điều luật quy định.
Hành vi phạm tội của các bị cáo không phải là bản chất, là mục đích mong muốn đạt đến hậu quả vi phạm, mà chỉ là bột phát nhất thời khi có điều kiện cho phép và sau đó tất cả đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định và nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng. Theo hướng có lợi cho người phạm tội, căn cứ về điều kiện cho hưởng án treo quy định tại mục 2, 3, 4 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018, của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 01/NQ – HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi một số điều của Nghị quyết số 02/2018 thì các bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Do đó, không cần thiết phải xử phạt tù có thời hạn mà cho các bị cáo: Dương Văn K , Dương Văn C , Dương Văn T Nguyễn Viết T được tự học tập, cải tạo bằng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình nơi cư trú cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Dương Văn M là chủ nhà, không trực tiếp tham gia đánh bạc, tính chất, mức độ không nghiêm trọng như các bị cáo trong vụ án. Do vậy, chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
.Về hình phạt bổ sung: Theo quy định Khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 triệu đồng đến 50.000.000 đồng”. Trong vụ án này các bị cáo tham gia đánh bạc là bột phát. Tuy nhiên, đó cũng là thu lợi bất chính của nhau. Để nâng cao mục đích đấu tranh phòng chống tội phạm xét cần thiết phạt bổ sung đối với các bị một khoản tiền nhất định để sung công quỹ Nhà nước đối với các bị cáo: Dương Văn K , Dương Văn C , Dương Văn T , Nguyễn Viết T .
Đối với bị cáo Dưỡng Văn M do đã áp dụng hình phạt chính bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Điểm e Khoản 2 Điều 32 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội các bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt tù đối với các bị cáo và đề xuất về xử lý vật chứng. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng như nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, được chấp nhận.
. Xử lý vật chứng: Về số tiền thu được là 8.990.000 đồng (Tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng), trong đó có 6.940.000 đồng thu trên chiếu bạc, 40.000 đồng là tiền các bị cáo khi ù bỏ ra để trả cho chủ nhà tiền điện, nước và số 2.010.000 đồng tạm giữ của bị cáo Dương Văn Thuấn. Bị cáo Thuấn khai nếu thua thì sẽ sử dụng số tiền này để đánh bạc. Do vậy xác định toàn bộ số tiền 8.990.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước
Các vật chứng khác: gồm 01 chiếu cói màu đỏ; 01 chăn nhung màu đỏ; 01 túi niêm phong mã số 2105341 (bên trong chứa 01 bộ bài chắn gồm 100 quân bài, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 ống kim loại hình trụ tròn loại vỏ hộp sữa Colorbaby kích thước cao 16cm, đường kính 13cm) là công cụ phạm tội. Tại phiên toà bị cáo M xác định công cụ phạm tội của gia đình bị cáo, bị cáo nhất trí đề nghị tiêu huỷ theo quy định. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy vật chứng thu giữ theo Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với số tiền tạm giữ trên người của Dương Văn C là : 4.000.000đ; của Nguyễn Viết T là 500.000đ. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo xác nhận không dùng để đánh bạc nên xét trả lại cho các bị cáo nhưng được tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án khoản tiền phạt và án phí của vụ án.
. Án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Dương Văn M , Dương Văn C , Dương Văn K , Dương Văn T và Nguyễn Viết T đã phạm tội “Đánh bạc”. 2. Về hình phạt chính:
2.1. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 50, Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Viết Thiện); Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
1. Bị cáo Dương Văn K 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
2. Bị cáo Dương Văn C 07 (bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3. Bị cáo Dương Văn T 07 (bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
4. Bị cáo Nguyễn Viết T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Dương Văn Cường, Dương Văn Khoát, Dương Văn Thuấn, Nguyễn Viết Thiện, cho UBND phường Hồng Tiến, Tp Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
(Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp hình phạt của Bản án mới theo quy định.
2.2. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 50, Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự:
Phạt tiền bị cáo Dương Văn M 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
3. Về hình phạt bổ sung:
3.1. Áp dụng Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, phạt tiền để sung công quỹ Nhà nước đối với bị cáo: Dương Văn Cường, Dương Văn Khoát, Dương Văn Thuấn, Nguyễn Viết Thiện mỗi bị cáo 10.000.000đ sung công quỹ Nhà nước.
3.2. Áp dụng Điểm e, Khoản 2 Điều 32 Bộ luật Hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Dương Văn Mười. 4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
4.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếu cói màu đỏ; 01 chăn nhung màu đỏ; 01 túi niêm phong mã số 2105341 (bên trong chứa 01 bộ bài chắn gồm 100 quân bài, 01 đĩa sữ màu trắng, 01 ống kim loại hình trụ tròn loại vỏ hộp sữa Colorbaby kích thước cao 16cm, đường kính 13cm).
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa CQĐT Công an thành phố Phổ Yên và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 21 tháng 02 năm 2023).
4.2: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: tiền VNĐ 8.990.000 đồng (Tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng).
4.3. Trả lại số tiền 4.000.000đ cho bị cáo Dương Văn Cường; trả lại cho bị cáo Nguyễn Viết Thiện 500.000đ, nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án khoản tiền phạt và án phí của vụ án để đảm bảo thi hành án.
(Theo ủy nhiệm chi chuyển tiền điện tử số 24 lập ngày 21 tháng 02 năm 2023, giữa CQĐT Công an thành phố Phổ Yên với Kho bạc Nhà nước thành phố Phổ Yên chuyển tiền vào tài khoản số 3949.0.1054784.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên, số tiền 13.490.000đ). 5. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Dương Văn M , Dương Văn C , Dương Văn K , Dương Văn T và Nguyễn Viết T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước; 6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo tại phiên tòa. Báo cho biết các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Công an thành phố Phổ Yên; - VKSND thành phố Phổ Yên; - Thi hành án thành phố Phổ Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |