- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án Phan Thị Đoan - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phan Thị Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2023/HSST Ngày: 16/5/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Loan.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Kim Loan
2. Bà Mai Tường Vi
Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N tham gia phiên tòa: ông Trần Quang Thắng - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48 /2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Thị Đ (tên gọi khác: không). Giới tính: Nữ. Sinh ngày 14/8/1988, tại huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Tổ 7, khu Diêm Thuỷ, phường Cẩm Bình, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do.Trình độ học vấn: Lớp 10/12. Con ông: Phan Đình Được (đã chết). Con bà: Vũ Thị Thái (đã chết). Chung sống như vợ chồng với anh Nguyễn Văn Thắng từ năm 2014 đến năm 2016, chung sống như vợ chồng với anh Đào Văn Hiếu từ năm 2018 đến năm 2020, có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt ngày 27/12/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng N, có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
- Ông Phạm Đức Khứa, sinh năm 1956. Nơi cư trú: tổ 5, khu 4B, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N.
- Anh Phạm Hoàng Long, sinh năm 2000. Nơi cư trú: tổ 5, khu 3A, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đ sử dụng ma túy đá từ năm 2014. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27/12/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên Đ đi đến khu vực tổ 7, khu Diêm Thủy, phường Cẩm Bình gặp và mua của một người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ; đeo khẩu trang) một túi ma túy đá, giá 500.000 đồng. Khi Đ đang cầm ma túy trên tay trái đi sử dụng thì bị Công an bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: thu tại tay trái của Đ 01 túi nilon kích thước khoảng (2,5x2,5)cm chứa chất tinh thể màu trắng và thu của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi vỏ màu xanh, lắp sim số 0987221115 và 0902098322.
Tại Bản kết luận giám định số 12/KL-KTHS ngày 03/01/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N, kết luận: chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của Đ gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,286 gam. Hoàn lại 0,23 gam Methamphetamine.
Người chứng kiến là ông Phạm Đức Khứa và anh Phạm Hoàng Long có lời khai phù hợp với nội dung vụ án, chứng kiến Công an kiểm tra bắt quả tang Phan Thị Đ tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng và niêm phong ma túy theo quy định pháp luật.
Cáo trạng số 52/CT-VKSCP ngày 07/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47
- Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: xử phạt bị cáo Phan Thị Đ từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 27/12/2022, tịch thu tiêu hủy 0,23gam ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định, trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi vỏ màu xanh kèm 02 sim.
Bị cáo không có ý kiến gì về cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P và bản luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Do đó, các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 21 giờ 40 phút ngày 27/12/2022 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm P, Biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật bị tạm giữ, Kết luận giám định số 12/KL-KTHS ngày 03/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N và phù hợp với lời khai của người chứng kiến là ông Phạm Đức Khứa và anh Phạm Hoàng Long, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: hồi 21 giờ 30 phút ngày 27/12/2022, tại tổ 7, khu Diêm Thuỷ, phường phường Cẩm Bình, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, Phan Thị Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,286 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng, thì bị Công an thành phố Cẩm P bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm…
a) ….
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người đã trưởng thành, biết rõ tác hại của ma túy và pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy, nhưng để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ ma túy, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy cần lên mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tuy nhiên cũng xét: bị cáo lần đầu phạm tội, có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bố bị cáo được Chủ tịch nước CHXHCNVN thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang vì đã có thành tích phục vụ trong quân đội nhân dân Việt Nam, hai con còn nhỏ, nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nhưng dù có xem xét đến đâu cũng Pi cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là đối tượng nghiện ma túy, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Số ma túy 0,23gam ma túy Methamphetamine được hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 12/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi vỏ màu xanh lắp sim số lắp sim số 0987221115 và 0902098322, quá trình điều tra xác định bị cáo chỉ dùng điện thoại này liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nên Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại trên.
Bị cáo Pi nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Phan Thị Đ, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ, nên không có căn cứ xác định, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: bị cáo Phan Thị Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Xử phạt: bị cáo Phan Thị Đ 14 ( mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 27/12/2022.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy được hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 12/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi vỏ màu xanh kèm 02 sim. (Tình trạng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 120 /BB-THA ngày 08/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm P).
Bị cáo Phan Thị Đ Pi nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tp. Cẩm P;
(đã ký)
- VKSND tỉnh Quảng N;
- TAND tỉnh Quảng N;
- Cơ quan CSĐT Công an tp. Cẩm P;
- Cơ quan THAHS Công an tp. Cẩm P;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng N;
- Chi cục THADS tp. Cẩm P
Nguyễn Thị Loan
- Lưu hồ sơ, Văn phòng.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tp. Cẩm P; - VKSND tỉnh Quảng N; - TAND tỉnh Quảng N; - Cơ quan CSĐT Công an tp. Cẩm P; - Cơ quan THAHS Công an tp. Cẩm P; - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng N; - Chi cục THADS tp. Cẩm P - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Loan |