vanban.org

Bản án 74/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 16/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn M H3 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Chu Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 10/12/2022 đến ngày 19/12/2022. Xử phạt bị cáo Nguyễn M H3 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam: Ngày 10/12/2022

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn M H3 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Chu Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2023/HS-ST
Ngày: 16-3-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đăng Cường

2. Bà Nguyễn Thị Hương Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn - Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Hạ Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng - kiểm sát viên.

Ngày 16/3/2023, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 36/2023/HSST ngày 24/02/2023 theo Q định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXXST-HS ngày 07/3/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh ngày 06/6/1988, tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: Tổ 7, khu 6, phường H2, thành phố Hạ Long, tỉnh Quang Ninh. Nơi ở: Tổ 46, khu 5, phường C, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: Lớp 12/12. Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968. Họ và tên chồng: Đỗ Văn H (đã chết). Có 04 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 10/12/2022 đến ngày 19/12/2022 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thanh V - Luật sư Công ty Luật TNHH Công Lý Bùi - chi nhánh Quảng Ninh, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn M H3 sinh ngày 14/5/1991, tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: Tổ 41, khu 4, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ở: Tổ 41, khu 4, phường C, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: Lớp 12/12. Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961 và bà Phạm Thị Th, sinh năm 1955. Chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/12/2022; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Chu Văn M, sinh ngày 27/3/1987, tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: Tổ 1B, khu 9, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: Lớp 12/12. Con ông Chu Văn B (đã chết) và bà Lưu Thị T, sinh năm 1956. Chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/12/2022; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

1. Anh Vũ Thế Qu, sinh năm 2004. Nơi thường trú: phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

2. Anh Đỗ Viết Th, sinh năm 1989. Nơi thường trú: Tổ 12C, khu 2, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 20 phút ngày 10/12/2022, tại tổ 12, khu 1, phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hạ Long phát hiện, bắt quả tang Chu Văn M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ trong bàn tay phải của M 01 túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1), 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung.

Tại Cơ quan điều tra, Chu Văn M khai: M và Nguyễn M H3, Nguyễn Thị H là bạn quen biết ngoài xã hội, nên M biết H và H3 cùng sinh sống với nhau và cùng bán ma túy. Do nhu cầu sử dụng ma túy nên 15 giờ ngày 10/12/2022, M đến nhà trọ của H và H3 tại tổ 46, khu 5, phường C, thành phố Hạ Long hỏi mua ma túy. Tại cổng nhà trọ, M gặp và đưa cho H3 500.000 đồng để H3 cầm vào nhà đưa cho H lấy 01 túi ma túy ra đưa cho M. Sau khi mua được ma túy, M cầm theo người rồi đi tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị công an phát hiện, bắt giữ.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị H, Nguyễn M H3 và khám xét nơi ở của H tại tổ 46, khu 5, phường C, thành phố Hạ Long, thu giữ trong túi nilon dưới nền phòng ngủ có 01 hộp nhựa bên trong có 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M2), 01 ống hút nhựa cắt vát một đầu, 01 cân điện tử, 10 vỏ túi nilon; thu trên bồn rửa mặt nhà vệ sinh 01 túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M3); thu tại gầm giường phòng ngủ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Ngoài ra, Nguyễn Thị H tự nguyện giao nộp 01 vỏ hộp nhựa bên trong có 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M4) trước đó H cất giấu trong người.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H và Nguyễn M H3 khai phù hợp với nhau và phù hợp với Chu Văn M, về việc: Khoảng 15 giờ ngày 10/12/2022, tại nơi ở của H3 và H thuộc tổ 46, khu 5, phường C, thành phố Hạ Long, H3 giúp H bán trái phép 01 túi ma túy cho M, với giá 500.000 đồng để M sử dụng. Về nguồn gốc ma túy bán cho M, ma túy H tự nguyện giao nộp và ma túy thu giữ khi khám xét khẩn cấp là do H mua của một người đàn ông tên Chiến (không rõ lai lịch, địa chỉ) vào sáng cùng ngày, tại khu vực ngã ba Cứu Hỏa, phường C, thành phố Hạ Long với giá 1.500.000 đồng về chia nhỏ rồi cất giấu tại nơi ở để bán kiếm lời. H3 không biết việc H còn tàng trữ ma túy trong nhà và trong người mục đích để bán.

Tại Biên bản kết luận giám định số 1985/KLGĐ ngày 18/12/2022 cảu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: mẫu vật ký hiệu M1, M2, M3, M4 gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, khối lượng: M1 thu giữ của Chu Văn M là 0,151 gam; tổng khối lượng M2, M3, M4 thu giữ của Nguyễn Thị H là 2,389 gam.

Lời khai của những người chứng kiến: Anh Vũ Thế Q và anh Đỗ Viết Thắng có lời khai thể hiện: Vào khoảng 15 giờ 20 phút ngày 10/12/2022, khi đi qua khu vực tổ 12, khu 1, phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long, các anh được chứng kiến việc Công an làm nhiệm vụ kiểm tra một nam thanh niên (sau này được biết tên là Chu Văn M), thu giữ tại tay phải của M 01 túi nilon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, M khai là ma túy đá, cất giấu mục đích để sử dụng và thu giữ của M 01 chiếc đện thoại di động nhãn hiệu Samsung (bút lục số 268-277)

Bản Cáo trạng số 38/CT-VKSHL ngày 20/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn M H3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Chu Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 30 đến 36 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn M H3 từ 24 đến 30 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Chu Văn M từ 15 đến 18 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại mỗi bị cáo 01 chiếc điện thoại di động đã thu giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Q định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn M H3 và Chu Văn M đều thừa nhận hành vi các bị cáo đã thực hiện vào ngày 10/12/2022 như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo H và H3 phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của bị cáo M về việc H3 giúp H bán 01 túi ma túy cho M tại nơi ở của H, với giá 500.000 đồng. Lời khai của các bị cáo cũng phù hợp với lời khai của những người chứng kiến và các tài liệu: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục số 69, 70), Biên bản khám xét (bút lục số 134; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (bút lục số 71, 75, 136, 205); biên bản nhận dạng (bút lục số 25, 26); bản ảnh (bút lục số 44-50) và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo khẳng định việc truy tố đối với các bị cáo là đúng, không oan sai.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo H có quan điểm: Đủ căn cứ kết luận bị cáo H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn, người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải Q vụ án, quy định tại các điểm g, h, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Như vậy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 10/12/2022, tại tổ 46, khu 5, phường C, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn M H3 có hành vi giúp Nguyễn Thị H bán trái phép 0,015 gam ma túy, loại Methamphetamine, với giá 500.000 đồng cho Chu Văn M. Đến 15 giờ 20 phút cùng ngày, M cầm số ma túy trên đến khu vực tổ 12, khu 1, phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long để tìm nơi sử dụng thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hạ Long phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Ngoài ra, Nguyễn Thị H còn có hành vi tàng trữ trái phép 2,389 gam ma túy, loại Methamphetamine trong người và tại nơi ở, cũng nhằm mục đích để bán.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn M H3 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Chu Văn M đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước ta. Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, mục đích để kiếm lời và để thỏa mãn việc sử dụng ma túy của bản thân. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung; đáp ứng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Xét vai trò của các bị cáo: Bị cáo H và H3 phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. H mua ma túy về chia nhỏ ra để bán, H3 giúp H bán ma túy cho M nên vai trò của H cao hơn và có mức hình phạt cao hơn H3. M thực hiện hành vi phạm tội độc lập và có mức hình phạt thấp hơn H và H3.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H có hoàn cảnh rất khó khăn, chồng chết, hiện một mình nuôi 04 con nhỏ, trong đó có 01 con dưới 36 tháng tuổi nên xem xét giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo được hưởng các tình tiết quy định tại các điểm g, h, t là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về xử lý vật chứng: Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 túi nilon màu đen; 01 hộp nhựa hình trụ tròn, đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu vàng cắt vát một đầu; 01 cân điện tử mini màu bạc, đã qua sử dụng; 10 vỏ túi nilon mini; 01 bộ sử dụng ma túy đá là những vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh + kèm 02 sim thu giữ của bị cáo M; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh đen + kèm 02 sim thu giữ của bị cáo H3; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen + kèm 01 sim thu giữ của bị cáo H đều không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo.

Bị cáo H bán ma túy cho M được hưởng lợi 500.000 đồng, là tiền thu lời bất chính nên cần truy thu để nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

Q ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn M H3 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Chu Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 10/12/2022 đến ngày 19/12/2022.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn M H3 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam: Ngày 10/12/2022

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Chu Văn M 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam: Ngày 10/12/2022.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 2,37 gam Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1985/KL-KTHS ngày 18/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 túi nilon màu đen; 01 hộp nhựa hình trụ tròn, đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu vàng cắt vát một đầu; 01 cân điện tử mini màu bạc, đã qua sử dụng; 10 vỏ túi nilon mini; 01 bộ sử dụng ma túy đá.

Trả lại bị cáo Chu Văn M 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh + kèm 02 sim. Trả lại bị cáo Nguyễn M H3 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh đen + kèm 02 sim. Trả lại bị cáo Nguyễn Thị H 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen + kèm 01 sim.

(Các vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 155/BB-THA ngày 09/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị H số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Q quy định về án phí, lệ phí tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước

Căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ